• Mat ngu.jpg
  • Mat ngu 2.jpg
  • Matngu 3.jpg

Vào viện tâm thần vì bị bạo hành

Trò chuyện với người đàn bà nhập viện Tâm thần vì bị bạo hành

Bệnh viện Tâm thần Trung ương (Thường Tín, Hà Nội) từng tiếp nhận không ít bệnh nhân nữ đang khỏe mạnh bỗng… hóa điên. Nhiều người trong số họ đã từng có một quá khứ cay cực, bị gia đình bạo hành, mới nhất là trường hợp bà Phạm T. Q.

Vào viện tâm thần vì bị bạo hành

Lần giở bệnh án của bệnh nhân Phạm T. Q. (Yên Mỹ, Hưng Yên), bác sỹ Tô Thanh Phương, Trưởng Khoa 6, Bệnh viện Tâm thần Trung ương cho biết bệnh nhân này có một cuộc đời rất bi đát: hơn 30 năm bị nhà chồng coi rẻ, bạo hành về tinh thần, bị chồng "ly thân", có ba người con nhưng một người chết, một người hư hỏng, người còn lại bỏ xứ mà đi biệt tích. Bức xúc tích tụ nhiều năm, nghĩ ngợi nhiều quá, bệnh nhân phát bệnh và được đưa vào đây điều trị.

Đã bước vào tuổi xế chiều, trên gương mặt của bà Q. vẫn còn vương lại nét đẹp của một thời thanh xuân. Đã được điều trị, bà có thể chuyện trò, tiếp xúc được với người khác tương đối bình thường, có điều, "di chứng" còn lại là bà nói rất nhiều, rất nhanh, nói như thể trút hết nỗi đau trong mình ra ngoài.

Bà kể: "Đời tôi khổ lắm cô chú ơi, có thể mang ra mà viết thành tiểu thuyết được! Mang tiếng lấy chồng hơn 30 năm, nhưng tôi không nhờ chồng được một cái tăm. Cái tuổi tôi nó thế, 10 cô thì 9 cô rưỡi chồng chết, chồng bỏ. Tôi bước chân vào nhà chồng mà như bước vào địa ngục, từ bà chồng, mẹ chồng cho đến chị chồng, mấy thế hệ cùng hùa vào sai việc, chẳng khác nào con ở. Hùng hục cả ngày lẫn đêm, chăn trâu, làm ruộng, lấy bèo nuôi lợn, bóc lá mía… không ngơi tay, thỉnh thoảng còn bị đánh, tôi cũng chẳng dám hé răng nói một lời".

Nhưng bắt làm việc chưa đủ, gia đình chồng bà Q. còn tìm mọi cách để ngăn cản ông bà… gần nhau. Bà cho biết, hồi mới cưới nhau, chồng bà đi công tác biền biệt 5 – 6 tháng mới về một lần. Về đến đầu làng, ông nhắn vợ ra đón, nhưng gia đình nhất quyết không cho. Chồng bà về nhà, hai vợ chồng trẻ cũng chẳng được ôm nhau, thậm chí không được… ngủ với nhau.

"Chúng tôi nói chuyện với nhau cũng bị kiểm soát. Vợ chồng ngủ nhau cũng sợ bị phát hiện, cứ bí mật như đánh du kích ấy" – bà Q. cay đắng kể lại. Chép miệng, bà phân bua: "Ông ấy không nói nặng lời, không động đến một móng tay của vợ, cưng nựng yêu thương, nhưng mỗi tội quá hiền, ù ù cạc cạc, lúc nào cũng bị sức ép từ gia đình, không dám hé răng bênh vợ một lời. Quan hệ tình cảm cũng rất hạn chế". Ngay cả khi chồng bà về công tác ở gần nhà, thời gian "vợ chồng" của họ cũng có thể đếm được trên đầu ngón tay.

Sau 6 năm sau lấy chồng, không chịu nổi sự giám sát khắt khe của gia đình chồng, bà Q. ôm cậu con trai cả và bụng bầu 2 tháng bỏ ra ngoài ở. Một mình bà mua đất, lợp nhà ở gần đó sống với con, "không phiền đến ai, như gái góa chồng", cấy thuê, buôn bán vặt kiếm sống. Nhà chồng bà không bắt về, mà chồng bà cũng không đi theo. Thi thoảng, ông chạy sang gặp bà, "tí toáy" vụng trộm cho đỡ nhớ rồi lại về mà cũng chẳng lấy người khác.

Trước khi vào điều trị ở Khoa 6, Bệnh viện Tâm thần Trung ương, bà Q. đi làm giúp việc. Bà bảo mình chăm chỉ, được nhà chủ quý mến, nhưng ốm yếu nên cứ làm một đợt là phải nghỉ vài ngày về quê thăm cháu. Đã mười năm nay, bà không ngủ được, tinh thần suy sụp, cả đêm cứ khóc rồi nghĩ miên man. "Có khi bao năm trắng đêm không ngủ nổi, tôi cứ nghĩ nhiều quá mà uất thành ra thế này…" – bà lẩn thẩn bảo.

Dở dang cả chuyến đò chiều…

Hai vợ chồng bà Q. có với nhau 3 mặt con. Khi cô con gái thứ ba sinh được một thời gian, nhà chồng bà bắt cả 3 cháu về nuôi, bỏ lại bà sống một mình thui thủi. Những đứa con của bà Q., dưới áp lực của nhà nội, cũng không nhìn mẹ.

Kể về các con, bà run run nói chuyện con trai đầu chết sớm, con dâu cũng khổ sở vì bị áp bức, cậu thứ hai hư hỏng, còn cô con gái "chấy rận", chuyện bà kể mỗi lúc mỗi khác. Bà bảo "nó hơi chập cheng, đi Trung Quốc làm ăn, mất tăm mất tích cả chục năm, hình như đi làm gái", lúc lại khoe "nó đã lấy chồng, có con ở bên ấy, đã về thăm tôi được một lần, dẫn cả chồng đi cùng nữa"…

Bà sống một mình đã hơn hai chục năm, khi thì ở Hưng Yên (vừa là quê mình, vừa là quê chồng), lúc lại lên Hà Nội, nhưng cũng hiếm khi về nhà mẹ đẻ vì "xấu hổ lắm, mình đã có ba đứa con rồi, ai lại về quê mẹ, thiên hạ lại bảo cóc chết ba năm quay đầu về núi". Thở dài thượt, bà bảo: "Tôi còn bà mẹ ở quê. Bà lẫn rồi. Hôm trước tôi về thăm, chăm sóc bà vài hôm thì bị bà mắng, bảo về để cướp nhà bà, hai mẹ con cãi nhau suốt, có muốn ở cùng chăm bà lâu dài cũng chẳng ở được..."

Ngồi thừ ra một lúc, rồi bà giật mình như sực nhớ ra điều gì, nói mơ màng: "Tôi đi thêm một lần đò nữa rồi đấy! Mới được 5 tháng thôi. Đấy là một ông thầy cúng hơn tôi gần chục tuổi, vợ chết lâu rồi. Hôm trước ông ấy xuống cúng cho thằng cháu nhà tôi, gặp duyên nhau, thế là gá nghĩa vợ chồng…"

"Ông chồng thứ hai", chẳng biết có thật hay là chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của bà Q., nhưng theo lời bà khoe: "Ông ấy quý tôi như nén vàng, không nói nặng lời câu nào, yêu chiều hết mực. Cả xóm ai cũng khen ông này may mắn, cuối đời còn lấy đâu được bà vợ xinh thế. Tôi thì thương ông ấy sống một mình đã lâu, cơm chẳng biết nấu, áo quần lôm côm. Về ở với tôi được mấy tháng mà ông ấy khỏe mạnh, vui vẻ lên hẳn".

Được đà, bà đem hết cả chuyện kín chuyện hở kể với người lạ: "Nói thật chứ, ngần ấy năm sống một mình ở nhà ngoài mặt đường, thanh niên trai tráng đi qua nhìn thấy tôi nhan sắc, người ta… thèm (!?) lắm, nhưng tôi vẫn không trao cho ai. Lâu dần thành quen, ai động chạm vào người tôi lại thấy ghê ghê. Lấy ông chồng mới, tôi chỉ muốn sớm tối cơm nước chăm nhau, chứ già đến nơi rồi, ai mà còn nghĩ đến chuyện kia nữa. Thế mà ông ấy đứng tuổi rồi vẫn còn sung sức, vợ mất đã lâu, như nắng hạn gặp mưa rào, cứ nài nỉ xin tôi "cho", nhưng họa hoằn lắm một tháng tôi mới chiều đôi lần, nhưng cũng không thích lắm".

Bà Q. bảo đã định gắn đời với người đàn ông ấy nhưng các em ruột bà không đồng ý. Một hôm, ông ấy đi vắng, gia đình đến đưa bắt bà về nhà. Bà không nghe, làm ầm ĩ lên, chửi bới, giằng co với các cháu nên bị đưa vào Bệnh viện Tâm thần Trung ương. Trước sau bà vẫn một mực bảo: "Tôi có điên đâu! Tôi chỉ nghĩ nhiều quá, bị hành nhiều quá thành ra lẩn thẩn, nói nhiều, hay chửi các cháu thôi!"

"Ra viện, tôi sẽ vào chùa"

Bác sỹ Tô Thanh Phương, Trưởng Khoa 6, nơi bệnh nhân Phạm T. Q. đang điều trị cho biết, khi được đưa vào viện, bà Q. rất căng thẳng, ở trong trạng thái hoảng loạn tinh thần, gào khóc và có dấu hiệu sang chấn tâm lý lâu dài. Gia đình bà Q. cũng thông báo cho bác sỹ biết cuộc sống bi đát, đầy áp lực của bà.

Thời gian đầu bà cũng hay khóc và mất ngủ. Sau gần hai tháng điều trị, hiện bà Q. đang hồi phục, đã ổn định hơn nhiều. Gia đình đang làm thủ tục xin ra viện. Bác sỹ Phương cho biết thêm, trong suốt thời gian bà Q. điều trị tại viện, không thấy con hay người nhà bên chồng bà đến thăm, chỉ có các cháu và em gái ruột của bà lui tới.

Người đàn bà đã bước vào tuổi xế chiều cho biết, bà đã thấy nhẹ lòng hơn và đã ngủ lại được, chỉ buồn vì bị đứt liên lạc được với chồng mới (?), cũng chẳng thấy chồng cũ và các con đến thăm nom. Bà cũng vui hơn vì "hôm trước dì nó vào thăm, dì nó dỗ dành tôi chịu khó chữa khỏi bệnh rồi về".

Thẫn thờ, bà bảo: "Tôi đã tự lo được mấy chỉ vàng, hồi đi làm giúp việc cũng ky cóp được ít tiền tiết kiệm, với lại mảnh đất nữa, nếu tôi có chết cũng chẳng ai phải phiền. Hôm trước có sư thầy vào đây nói chuyện với các bệnh nhân, tôi đã xin phép nhà chùa rồi, khi được ra viện tôi sẽ đến chùa ở, quét dọn, làm công quả. Nhưng giá kể người ta để tôi sống yên với ông ấy (chồng thứ hai - PV) thì tốt nhỉ…"

 

Làm bạn với bệnh nhân tâm thần

Làm bạn với bệnh nhân tâm thần

Theo BS Tô Thanh Phương, điều mà ông rất trăn trở là hiện nay, cuộc sống hiện đại với những áp lực ngày càng lớn, khiến số lượng bệnh nhân trầm cảm có xu hướng ngày một tăng. Bệnh trầm cảm có thể làm bệnh nhân thấy chán sống và có ý định tự tử; thế nhưng...

Là tiến sĩ đầu ngành của Việt Nam về trầm cảm học, tiến sĩ, bác sĩ cao cấp, Thầy thuốc ưu tú Tô Thanh Phương, Trưởng khoa Cấp tính nữ, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 (Thường Tín, Hà Nội) đã có gần 30 năm gắn bó với các bệnh nhân tâm thần học. Không phải lúc nào công việc cũng suôn sẻ, nghề bác sĩ tâm thần cũng vất vả hơn rất nhiều các lĩnh vực khác, nhưng chưa bao giờ TS Tô Thanh Phương có ý định rời xa những bệnh nhân của mình...

 

Tiến sĩ Tô Thanh Phương thăm khám cho bệnh nhân.


Sinh năm 1959, tại Hà Nội, tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1982, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự (năm 1985), năm 1986 bác sĩ (BS) Tô Thanh Phương được phân công về Bệnh viện (BV) Tâm thần Trung ương. BS Phương chia sẻ: “Đó là thời điểm đất nước đang chuyển mình. Đời sống của các y bác sĩ lúc đó vốn đã gặp rất nhiều vất vả, với các bác sĩ tâm thần càng vất vả hơn, khiến không ít người đã từ bỏ nghề bởi không chịu nổi những khó khăn, áp lực. Bản thân tôi cũng có không ít cơ hội để chuyển sang làm những công việc khác nhàn hạ, thu nhập cao; tuy nhiên tôi vẫn quyết tâm “bám nghề”, bởi từ khi chọn chuyên ngành này, tôi đã tâm niệm: Đã theo nghề thì phải yêu lấy nghề”.


Từ khi về công tác tại BV Tâm thần TƯ 1 đến nay, BS Tô Thanh Phương được điều động tới nhiều khoa, phòng khác nhau, nhưng theo đánh giá của đại diện lãnh đạo BV, dù ở cương vị nào, ông cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, luôn là tấm gương sáng để đồng nghiệp và học trò noi theo.
Dù rất vững về chuyên môn, nhưng BS Tô Thanh Phương vẫn luôn học hỏi đồng nghiệp, đồng thời tự học thêm ngoại ngữ để cập nhật những kiến thức y khoa tiến bộ. Ngoài việc làm tốt công tác chuyên môn, BS Phương còn tham gia giảng dạy, đào tạo bác sĩ ngành tâm thần tại bệnh viện và tuyến dưới...


“Từ tháng 3/2012, tôi được phân công phụ trách Khoa Cấp tính nữ, một khoa mới thành lập chuyên điều trị các bệnh nhân nữ mắc bệnh nặng, kích động, dễ có hành vi tự sát... Mọi cán bộ, nhân viên trong khoa đã rất nỗ lực để khám chữa bệnh tận tình chu đáo, nhờ vậy, đã phát hiện và xử trí kịp thời nhiều bệnh nhân trầm cảm nặng có ý định và hành vi tự sát”, BS Phương chia sẻ.


Theo BS Tô Thanh Phương, điều mà ông rất trăn trở là hiện nay, cuộc sống hiện đại với những áp lực ngày càng lớn, khiến số lượng bệnh nhân trầm cảm có xu hướng ngày một tăng. Bệnh trầm cảm có thể làm bệnh nhân thấy chán sống và có ý định tự tử; thế nhưng hiện tại, nhiều người dân vẫn rất thờ ơ, xem nhẹ căn bệnh này. Trách nhiệm của các BS chuyên ngành tâm thần vì vậy ngày một nặng nề hơn, là phải tuyên truyền để giúp người dân có thể sớm phát hiện và điều trị được bệnh trầm cảm, tránh những hậu quả đáng tiếc.


Là bác sĩ đầu ngành về trầm cảm, thời gian qua, không biết bao nhiêu lượt bệnh nhân đã được bác sĩ Phương tận tình cứu chữa. Mới đây nhất là trường hợp một nữ sinh cấp 3 tên Thanh (Hà Nội). Thanh phát bệnh với những biểu hiện như mệt mỏi, tê toàn thân, nôn, phải đi cấp cứu không dưới 10 lần. Gia đình đưa cô bé chạy chữa khắp các bệnh viện lớn, nhỏ. Suốt một năm ròng chạy chữa không khỏi, nghe lời thầy cúng, người nhà đưa Thanh lên chùa. Bệnh của Thanh trở nên trầm trọng, cô bé đã cắn nát môi, tuyệt thực 1 tuần liền, tưởng không sống nổi. Thanh được đưa về cấp cứu ở Viện quân y 103, sau đó được chuyển về BV Tâm thần Trung ương 1. Phát hiện đây là ca trầm cảm nặng, bác sĩ Phương đã trực tiếp điều trị cho Thanh. Nhờ điều trị đúng hướng, hiện tại Thanh đã khỏi bệnh và được xuất viện trong tình trạng sức khỏe ổn định.


Đề cập đến vấn nạn phong bì và những vụ việc liên quan đến y đức khiến dư luận bức xúc, bác sĩ Phương chia sẻ: “Xã hội hãy nhìn cán bộ ngành y với cái nhìn toàn diện, thiện cảm hơn. Ở khắp mọi miền Tổ quốc, vẫn còn rất nhiều cán bộ y tế đang nỗ lực ngày đêm để cứu sống người bệnh. Những bác sĩ làm việc trong chuyên ngành đặc biệt như tâm thần cũng vậy. Bệnh tâm thần là bệnh mạn tính, phải điều trị liên tục kéo dài khiến gia đình bệnh nhân khánh kiệt, thậm chí rất nhiều người bệnh lang thang, cơ nhỡ... nên chúng tôi luôn đến với bệnh nhân bằng tất cả tình thương và trách nhiệm của một người bác sĩ. Đồng thời, chúng tôi phải tìm mọi cách để có thể chia sẻ, an ủi bệnh nhân như một người bạn, một người thân để hiệu quả điều trị có thể đạt được kết quả mong đợi”.


Bác sĩ Tô Thanh Phương cũng chia sẻ, những năm gần đây ngành tâm thần đã có bước phát triển hơn: Cơ sở vật chất hiện đại, thuốc men tốt, trình độ, tay nghề của đội ngũ y, BS ngày càng được nâng cao, riêng Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 đã có 7 tiến sĩ, 4 nghiên cứu sinh. Mong mỏi lớn nhất của ông cũng như đồng nghiệp là sẽ có nhiều bạn trẻ yêu và lựa chọn theo học ngành tâm thần để ngành tâm thần nước nhà có đội ngũ tiếp bước trẻ trung, vững vàng chèo lái.


Bài và ảnh: Hà Liên

Dòng họ ba đời bị "liệt đột ngột": Bệnh lạ hay "bùa ngải"?

Dòng họ ba đời bị "liệt đột ngột": Bệnh lạ hay "bùa ngải"?

Đang sinh hoạt bình thường bỗng nhiên chân tay bải hoải rã rời, vài phút sau toàn thân tê liệt rồi bất động. Bệnh sẽ tự khỏi sau khoảng 6-8 giờ hoặc vài ngày tùy độ tuổi. Căn bệnh đó đã hành hạ dòng họ Phạm (phường Cửa Bắc, TP Nam Định) đến nay đã ba đời.

"Vái" tứ phương, đông tây y kết hợp nhưng vẫn chưa ai có lời giải chính xác căn bệnh lạ này. Những lời đồn thổi cũng với những biểu hiện "truyền đời" khiến những người trong cuộc luôn nghĩ dòng họ mình đang bị yểm bùa.

Bị yểm bùa từ ba đời trước?

Nằm trong một nhánh nhỏ của họ Phạm, ông Phạm Văn Tỳ sinh được l0 người con thì có tới ba người bị di truyền chứng "liệt đột ngột" từ bố. Gồm con trai thứ ba Phạm Văn Ngọc, con gái thứ năm Phạm Thị Hồng và con gái thứ sáu Phạm Thị Tuyết. Và căn bệnh di truyền ấy lại tiếp tục đeo bám dòng họ này đến đời thứ hai, khi ông Ngọc sinh được ba cô con gái thì lại có tới hai người mắc bệnh. Hai người con khác của ông Tỳ là bà Hồng và bà Tuyết, dù là phận gái nhưng khi sinh con, các con của họ cũng đều mắc phải căn bệnh lạ này.

Nói chuyện với chúng tôi, bà Hồng không giấu được sự lo lắng và buồn bã. Bà cứ nhắc đi nhắc lại câu nói: "Không hiểu dòng họ tôi có bị yểm bùa hay không nữa. Nếu không thì sao lại nhiều người bị đến thế?". Nói rồi bà Hồng kể lại cho chúng tôi nghe cái lần đầu tiên bà mắc chứng "liệt đột ngột": "Tôi bị bệnh này sớm lắm, từ khi mới chín tuổi cơ. Hôm đó là ngày cưới của chị gái tôi. Khi nhà trai chuẩn bị đến đón dâu thì đột nhiên người tôi như muốn khuỵu xuống. Chân tay bải hoải, đứng không vững phải tìm ngay một góc kín để nằm. Sau đó cơ thể từ phần cổ trở xuống cứ bất động dần. Mặc dù vẫn tỉnh táo nhưng tôi lại không thể nào nhúc nhích chân tay". Mặc dù đã từng chứng kiến bố mình bị thế nhưng lần đầu tiên mắc bệnh đó bà Hồng vẫn không tránh khỏi hoang mang, sợ hãi.

Bà Hồng kể: "Lúc bé bị bệnh tôi chỉ thấy sợ hãi thôi nhưng sau này khi đã trở thành thiếu nữ tôi tủi thân lắm. Lần nào bị tôi cũng khóc. Tôi cứ nghĩ mình mắc bệnh thế này chắc gì đã có ai dám yêu thương và lấy làm vợ".

Bà Hồng vẫn thường được mẹ kể cho nghe câu chuyện về bà nội của mình. Hồi đó nhà bà Hồng thuộc tầng lớp địa chủ giàu có, bà nội của bà chẳng may mắc bệnh lạ cứ một thời gian lại bất thình lình bị liệt. Khi đó gia đình bà Hồng đã đón một ông thầy lang người Tàu đến để chữa. Ông thầy này rất giỏi nên đã chữa khỏi được bệnh cho bà nội của bà Hồng.

Thế nhưng nghe nói phí chữa bệnh mà ông thầy người Tàu này đưa ra quá cao, gia đình đã không thể đáp ứng được yêu cầu đó nên ông thầy lang người Tàu đã uất ức và yểm một đạo bùa. Ông ta còn nói thẳng với gia đình bà Hồng rằng, sẽ yểm bùa cho 3 đời bệnh không bao giờ khỏi. Và bùa yểm ấy đã linh ứng khi đến đời bố của bà Hồng (là ông Tỳ) và các anh chị em của ông Tỳ là bắt đầu phát căn bệnh "liệt đột ngột" này. Bố đẻ bà Hồng bị rất nặng, đến tận năm 80 tuổi sắp mất, ông vẫn bị chứng bệnh này hành hạ.

Trong 5 người anh em ruột thịt của ông Tỳ thì có tới 3 người bị mắc cùng chứng bệnh. Ông Tỳ chỉ là một nhánh của dòng họ Phạm đang sinh sống ở Nam Định mắc phải căn bệnh "liệt đột ngột" này. Điều đó có nghĩa là hai người anh em còn lại của ông Tỳ đã mang căn bệnh lạ này đi sinh sống nơi khác. Anh Lê Tuấn Anh, sinh năm 1993, con trai út của bà Hồng là đời thứ 3 trong dòng họ bị mắc chứng bệnh lạ. Bản thân Tuấn Anh và mẹ chưa bao giờ đi thăm khám ở bất cứ cơ sở y tế nào.

Tuấn Anh chia sẻ: "Nhà em, ai cũng tin rằng dòng họ mình bị yểm bùa, nên đi khám cho có thôi chứ biết là không khỏi. Cảm giác lúc sắp bị "tê liệt" rất khó chịu, người vẫn bình thường nhưng không cử động được. Muỗi đốt, kiến bò chỗ nào vẫn biết nhưng không sao cử động được. Chân tay cứ nhũn ra như sợi bún. Nằm lâu một tư thế mỏi và đau nhức vô cùng, phải nhờ ai đó xoay người giúp. Bình thường em chỉ bị 6 - 8 giờ, ngủ một giấc dậy là khỏi. Nhưng có hôm em bị 3 - 4 ngày liền, nằm bẹp một chỗ, ăn uống phải có người đút, vệ sinh tại chỗ. Mắc bệnh lạ này em không dám đi đâu xa một mình, công việc và cuộc sống cũng bị ảnh hưởng rất nhiều. Nhiều hôm, đang đi ngoài đường thấy có dấu hiệu là phải đi thật nhanh về nhà ngay hoặc nằm nghỉ ở đâu đó".

Vì mắc chứng bệnh lạ nên mặc dù Tuấn Anh đá bóng rất giỏi, có thời gian chơi bóng đá dưới Bình Dương nhưng phải nghỉ. Ngồi cạnh con trai, bà Hồng buồn rầu nói: "Thiệt thòi lắm cô chú ạ. Tập tành hết hơi, nhưng cứ đang đá lại bị như vậy thì ai người ta nhận nữa. Giờ nó chẳng dám đi đâu xa, chỉ quanh quẩn ở nhà thôi. Nếu lỡ chẳng may liệt đột ngột thì bạn bè lại khiêng về nhà nằm. Hết cơn lại dậy đi chơi như không. Xung quanh đây, làng xóm chứng kiến, người ta cứ bảo nhau, bệnh như anh giả vờ".

Lê Tuấn Anh có lẽ là người bị bệnh nặng nhất trong dòng họ Phạm. Có thời điểm chỉ trong một thời gian ngắn mà Tuấn Anh bị liệt đột ngột đến vài lần. Nhiều khi đang ngồi chơi máy tính, đột ngột Tuấn Anh thấy chân tay mình nặng trịch, cố ngồi thêm lúc nữa. Anh không thể tự đứng dậy, hai đầu gỏi cứ choãi ra dưới sức nặng của cơ thể. Bạn của Tuấn Anh phải xốc anh ra khỏi ghế cho ngồi tựa vào tường nếu không cả người sẽ đổ ụp xuống. Ngồi tiếp chuyện tôi thêm một lúc, mắt Tuấn Anh có dấu hiệu sụp xuống như người cố chống lại cơn buồn ngủ. Tay cũng choãi ra đất, không giữ nổi chiếc điện thoại trên tay. Người bạn phải bế Tuấn Anh vào giường nằm.


Ảnh minh họa

Cần một lời giải của các nhà khoa học

Trong số ba người con của ông Phạm Văn Tỳ mắc bệnh thì có lẽ ông Phạm Văn Ngọc là người chịu khó đi khám nhất. Hễ cứ nghe đồn ở đâu có thể chữa khỏi bệnh là ông lại khăn gói lên đường. Không giống với hai người em gái của mình mắc bệnh từ khá sớm, lên mười tám tuổi ông Ngọc mới phát bệnh. Ông kể: "Thời gian trong quân ngũ, tôi bị "tê liệt" liên tục, có khi bị 3 - 4 ngày liền, y sĩ trong quân đội khám bảo tôi bị bệnh thần kinh khả liệt. Hiểu nôm na là khi làm việc quá sức, thần kinh nó tự nghỉ, sau một thời gian phục hồi nó lại trở lại bình thường".

Năm 2009, con gái ông cũng bắt đầu phát bệnh. Đưa con đi khám ở bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định thì các bác sĩ, nói con của ông bị thiếu Kali trong máu và kê thuốc viên uống bổ sung Kali hàng ngày. Từ đó đến nay, hễ cứ thấy bứt rứt chân tay là con gái ông Ngọc lại uống ngay 1 viên. Bệnh vẫn diễn ra, nhưng thời gian "tê liệt" giảm xuống.

Nhiều người trong dòng họ Phạm tin rằng, sở dĩ họ bị mắc chứng "liệt đột ngột" ấy là do lời nguyền của ông thầy lang người Tàu. Thế nên họ đi cúng lễ khắp nơi, lên Lào Cai, Yên Bái... thậm chí sang cả Trung Quốc nhưng bệnh vẫn không khỏi.

Có một điều đặc biệt trong diễn tiến của căn bệnh này là: tuổi càng cao thì bệnh càng có chiều hướng thuyên giảm. Những người trạc tuổi như bà Hồng, ông Ngọc trong dòng họ đều rất ít tái diễn bệnh, thi thoảng vài tháng hoặc một năm bị đôi ba lần. Trong khi lớp thanh niên tuổi đôi mươi lại bị tương đối nặng, thường xuyên và trai bị nặng hơn gái.

Tính tới đời con của ông Ngọc, bà Hồng, bà Tuyết và nhiều người khác nữa là đúng tròn ba đời bị mắc chứng bệnh lạ. Hiện, đã có những đứa trẻ được sinh ra ở đời thứ tư nhưng chưa có biểu mắc bệnh bởi tính về độ tuổi phát bệnh trung bình thì chúng chưa đến tuổi. Những người lớn tuổi trong dòng họ Phạm đều phấp phỏng lo âu cho tương lai của những đứa trẻ đời thứ tư. Đó cũng là cách để họ kiểm chứng lời nguyền của ông thầy lang người Tàu là thật hay chỉ là đồn thổi.

Riêng với ông Ngọc, người hiếm hoi không tin vào bùa ngải thì tha thiết bày tỏ: "Dòng họ chúng tôi rất mong các cơ quan chức năng quan tâm và chữa cho khỏi bệnh cho chúng tôi. Chúng tôi già rồi, bệnh cũng giảm nhiều rồi nhưng còn lũ trẻ. Bệnh tật sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tương lai của các cháu".

Bác sĩ Vũ Đức Bình - Trưởng khoa bệnh máu tổng hợp II - Viện huyết học TW cho biết: "Tôi không tin có chuyện bùa ngải ở đây. Tuy nhiên, đây là chứng bệnh lạ, chưa từng có trong y văn. Với những biểu hiện của bệnh, tôi khẳng định, đây không phải bệnh thần kinh thực vật, không phải do thiếu Kali trong máu. Vì nếu thiếu chất, cơ thể không thể tự phục hồi sau một khoảng thời gian mà không cần dùng thuốc, bệnh cũng không tiến triển nặng lên mà lại có xu hướng giảm đi theo tuổi. Tôi cũng khẳng định, đây không phải lả bệnh di truyền theo máu, muốn xác định rõ vấn đề này phải làm các xét nghiệm về gene gây bệnh. Theo tôi, người bệnh nên thăm khám ở các bệnh viện tuyến trung ương và khám ở các chuyên khoa khoa tâm thần kinh để các bác sĩ theo dõi".

Tiến sĩ Tô Thanh Phương - Bệnh viện Tâm thần Trung ương I cho biết: "Tôi không hề lạ với chứng bệnh này. Tôi đã từng thăm khám cho những bệnh nhân bị điếc và mù đột ngột. Tôi khẳng định, đây là một dạng rối loạn nhân cách thường gặp ở những người có nhân cách yếu, thích được chiều chuộng, vuốt ve. Nếu là liệt thực thể thì bệnh phải nặng thêm chứ không thể nào hồi phục sau một thời gian ngắn. Yếu tố di truyền trong dòng họ là do con bị ảnh hưởng bởi cha mẹ. Điều trị cho những người bệnh này, quan trọng nhất là bồi dưỡng nhân cách, không quá chiều chuộng nhưng cũng không quá cứng nhắc trong cách giáo dục. Những người bệnh trong họ Phạm có thể đến gặp tôi, tôi sẵn sàng thăm khám cho họ".




Theo CSTC

dieu tri ao thanh keo dai bang kich thich tu xuyen so

 

BỘ Y TẾ

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG Ư­ƠNG 1

-------------------------

 

 

BÁO CÁO

 ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ   

 

 

 

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ

CỦA KÍCH THÍCH TỪ XUYÊN SỌ TRONG HỖ

TRỢ ĐIỀU TRỊ ẢO THANH KÉO DÀI Ở BỆNH NHÂN TÂM THẦN PHÂN LIỆT THỂ PARANOID

 

 

                                                 

                                                      Chủ nhiệm đề tài :TS Tô Thanh Phư­ơng

                                                    

 

HÀ NỘI 2013

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

         Năm 1852, nhà tâm thần học Bỉ Benedict Morel lần đầu tiên mô tả một loại bệnh nhanh chóng dẫn đến mất trí và ông gọi là sa sút sớm.

        Năm 1911, lần đầu tiên  Eugène Bleuler (Thuỵ sĩ ) gọi là tâm thần phân liệt (TTPL) và được dùng từ đó cho đến nay. Tâm thần phân liệt có nghĩa là sự chia cắt, mất sự thống nhất giữa các mặt của hoạt động tâm thần và hiện nay bệnh nguyên, bệnh sinh vẫn còn chưa rõ. Đặc trưng của bệnh là các triệu chứng loạn thần và chính các triệu chứng này đã huỷ hoại chức năng của hệ thống thần kinh trung ương, làm rối loạn các lĩnh vực cảm giác, tư duy và hành vi. Bệnh có xu hướng tiến triển và trở thành mạn tính. Các tác giả H.I.Kaplan-B.J.Sadock (1998); M.Hanus (1998)....cho thấy tỷ lệ khoảng 1-1,5% dân số trưởng thành. 

     Việc điều trị tâm thần phân liệt gặp rất nhiều khó khăn do tính chất tiến triển liên tục của bệnh. Mặt khác, bệnh thường đáp ứng kém với thuốc nhất là các thuốc an thần kinh ( ATK) cổ điển, số bệnh nhân kháng thuốc ngay cả với các thuốc an thần kinh thế hệ mới cũng ngày càng nhiều. Biểu hiện thường gặp nhất của bệnh tâm thần phân liệt Paranoid kháng thuốc là ảo thanh kéo dài. Ảo thanh kéo dài đã gây rất nhiều khó khăn cho điều trị, thầy thuốc thường phải dùng nhiều loại thuốc liều cao phối hợp với nhau, phối hợp cả thuốc an thần kinh cũ và thuốc an thần kinh thế hệ mới cũng không điều trị hết được ảo thanh kéo dài, chính triệu chứng này đã khiến cho bệnh không ổn định và người bệnh có thể kích động nguy hiểm bất cứ lúc nào do ảo thanh chi phối.

     Kích thích từ xuyên sọ ( Stimulation Magnétique Transcranienne -  SMT hoặc TMS (Anh)) là một phương pháp chữa bệnh mới được áp dụng điều trị trong khoảng một vài thập kỷ nay. Đây là một kỹ thuật không xâm lấn và vô hại với người bệnh. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy, kích thích từ xuyên sọ có tác dụng tốt trong hỗ trợ điều trị nhiều bệnh tâm thần, trong đó có một số tài liệu cho thấy có tác dụng tốt đối với vùng tri giác lời nói ở vỏ não, do vậy có tác dụng rất tốt điều trị ảo thanh kéo dài.

      Hiện nay ở Việt Nam  chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này một cách có hệ thống. Việc nghiên cứu áp dụng kích thích từ xuyên sọ kết hợp với thuốc an thần kinh điều trị ảo thanh kéo dài giúp cho bệnh ổn định, để người bệnh có thể tái hoà nhập vào xã hội là rất cần thiết. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“ Bước đầu đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid ”

Nhằm các mục tiêu sau :

1. Sơ bộ đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

2. Xác định độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1  Một vài kháI niệm về kích thích từ

1.1.1 Một vài nét về lịch sử nghiên cứu về kích thích từ xuyên sọ.

    Năm 1831 Michael Faraday phát minh ra điện từ trường, từ trường khi biến đổi ( theo thời gian hay không gian ) có thể sinh ra dòng điện cảm ứng.  

    Năm 1896, Arsène d’Arsonval lần đầu tiên đ­ưa ra khái niệm kích thích từ qua vỏ não.

     Năm 1914, Magnuson và Stevens đặt một cuộn dây (với dòng điện xoay chiều 110 vol và 30 ampere) nối với 1 tụ phóng điện bao quanh đầu 1 ngư­ời khiến mắt người này có những đốm sáng lập loè (nổ đom đóm mắt ).

     Năm 1965, Brickford và Flemming kích thích dây thần kinh tam thoa bằng từ trường.

     Năm 1980 ng­ười ta sản xuất đ­ược máy kích thích từ đơn giản

      Năm 1982, Polson kích thích từ trường dây thần kinh ngoại vi và lần đầu tiên ghi được điện thế co cơ.

      Năm 1985 Anthony Barker ( Anh ) lần đầu tiên áp dụng để chứng minh có

sự truyền dẫn hoạt động từ vỏ não vận động tới tuỷ sống

     Năm 1995, Mỹ là quốc gia đầu tiên áp dụng để điều trị trầm cảm

     Cho tới trước 1/2003 đã có tới hơn 2140 công trình nghiên cứu về kỹ thuật này được công bố, nghĩa là từ năm 1999 đến 2003, ít nhất mỗi năm có 250 công trình nghiên cứu được công bố. Trong khi đó sốc điện từ năm 1966 cho tới 2003, chỉ  có 6400 nghiên cứu được công bố .Việc nghiên cứu đã thực sự bùng nổ từ hơn 10 năm trước đây [3],[5],[6],[9]..

1. 1. 2 Nguyên lý hoạt động của máy kích thích từ xuyên sọ

              Kích thích từ xuyên sọ(Stimulation Magnétique Transcranienne-SMT )

 ( SMT hoặc TMS (Anh) dựa trên nguyên tắc về lực tác dụng tương hỗ được phát hiện năm 1831 bởi Faraday. Khi dòng điện bị biến đổi trong một phạm vi từ trường sẽ tạo ra một dòng điện cảm ứng. Để có phạm vi từ trường thì người ta phải dùng dòng điện ngắt quãng, khi phạm vi từ trường bị biến đổi theo thời gian sẽ tạo ra dòng điện cảm ứng và dòng điện cảm ứng này sẽ có tác dụng chữa bệnh, vỏ não sẽ đóng vai trò là vật dẫn. Nếu dòng điện đủ mạnh thì nó sẽ kích thích các nơron và tạo ra một điện năng hoạt động lan truyền theo các nơron, điện năng lan truyền này sẽ có các hiệu quả trực tiếp quan sát được như hiện tượng giật cơ. Tương tự như vậy, các hiệu quả gián tiếp của sự lan truyền điện năng hoạt động này tới các trung khu thần kinh khác nằm trong khoảng kích thích và người ta gọi là hiệu quả xuyên xy náp (transynaptique ).

   Nguyên lý:   Dùng máy tạo dòng điện từ 5000 ampere trở lên, ở dạng xung, kèm 1 cuộn dây tạo được xung từ trường từ 1 Tesla trở lên. Thời khoảng của xung khoảng 1 ms. Máy phát xung điện được tích điện cho tới điện thế tối đa là 2800 vol (2,8kv). Khi có tín hiệu kích thích, nó sẽ phóng điện vào cuộn dây. Bộ phận chuyển mạch giúp chuyển một lượng lớn dòng điện ra cuộn dây trong vòng vài miligiây và chỉ theo một chiều. Người ta tính là năng lượng khoảng 500j được chuyển qua cuộn dây, trong vòng 100 microgiây. Một phần năng lượng ấy được chuyển thành năng lượng từ trường. Cường độ của từ trường giảm dần theo khoảng cách, lớn nhất ở vị trí sát với bề mặt cuộn dây. Những yếu tố như độ xuyên thấu, cường độ và độ chính xác phụ thuộc vào:

- Thời gian tăng cường độ ( rise time )

- Năng lượng từ  trường tối đa ( peak magnetic energy) chuyển vận qua cuộn dây và phân bố theo không gian của trường điện từ. Rise time và peak magnetic energy do máy quy định còn phân bố từ trường theo không gian thì tuỳ theo kiểu cuộn dây. Cuộn dây hình tròn, đường kính 90 mm là cuộn dây tiêu chuẩn, tạo hiệu quả tốt nhất cho vỏ não vận động và cho rễ thần kinh ống sống. Cường độ kích thích bằng không hay gần bằng không ở trung tâm cuộn dây và tăng lên tối đa ở vòng tròn dưới cuộn dây. Dòng điện sinh ra tại mô có chiều ngược với chiều của dòng điện có trong cuộn dây. Với cuộn dây đường kính 90 mm, vị trí kích thích chính xác không rõ lắm nên người ta thiết kế thêm các kiểu cuộn dây khác như: cuộn dây kép ( kiểu con bướm hay kiểu số 8), khi đó vị trí kích thích ở trung tâm chỗ 2 cuộn dây chạm nhau.

1.1.3 Các loại kích thích từ

        Bộ phận xung động từ trường tạo ra một xung động duy nhất hoặc tách ra thành một đôi xung động trong một vài mili giây ( xung năng đơn thuần hoặc xung năng đôi). Khi điều trị, bộ phận này đã tạo ra hàng loạt xung động trong khoảng thời gian nhiều giây tới nhiều phút, và nhiều đợt xung động đã được tách ra bởi sự xen kẽ lúc nghỉ- lúc lặp lại do một bộ phận tạo ra. Các xung động có thể biến đổi từ 10 giây tới 100 giây đối với các máy có cường độ mạnh hơn ( 0,1 đến 100HZ).

Chu kỳ chậm: Các kích thích với tần số dưới hoặc tương đương với 1HZ thì người ta gọi là chu kỳ chậm ( Slow-Stimulation Magnétique Transcranienne –sSMT)

Chu kỳ nhanh: Các kích thích trên ngưỡng1HZ được gọi là chu kỳ nhanh       Repetitive-Stimulation Magnétique Transcranienne - rSMT) > 3 Hez có tác dụng hoạt hoá các nơron .

             Cường độ kích thích nơron phụ thuộc vào:

       - Cường độ của xung động từ trường. Xung động xuyên qua vỏ não từ 1,6 – 2 cm [6].

 - Số l­ượng các xung động đ­ược phát ra

- Ngưỡng vận động của người bệnh. Ngưỡng vận động được hiểu là khi có cường độ kích thích yếu nhất tác động đến vùng vỏ não vận động mà sinh ra co giật cơ.

- Số buổi điều trị

- Loại máy sử dụng

      Với tần số HZ nhanh (rSMT) thường có hiệu quả cao hơn so với những tần số HZ thấp. Tuy nhiên thời gian cũng đóng vai trò quan trọng trong biến đổi này, các biến đổi do sự kích thích này có liên quan với những biến đổi của dòng máu não vùng đó.

Hiệu quả : Dòng điện cảm ứng đ­ược truyền sâu xuống và tác động như sau

- Tác động đến vùng Amidal, hệ limbic ( cảm xúc)

- Tác động đến các ổ xám trung ư­ơng và hệ thần kinh nội tiết mà đặc biệt là trục tuyến giáp, hướng vỏ thượng thận và giải phóng một lượng Dopamin và Serotonin tương đương ( tạo ra cảm giác ham muốn, sự hài lòng), do vậy làm tăng nhậy cảm của thụ thể với các nơron vận chuyển, đồng thời làm giảm giải phóng Vasopressine 1 và sản phẩm của các yếu tố noron bảo vệ.

    Các hiệu quả này mang tính đặc biệt ở một vài vùng vỏ não. Để có kết quả  điều trị thì số buổi điều trị và  thời gian kéo dài của mỗi buổi, khoảng cách xen kẽ nghỉ giữa 2 đợt, 30-50% đáp ứng với điều trị hàng ngày từ 4-6 tuần. Cường độ của từ trường và số lượng các xung động được phát ra, dạng của cuộn dây sử dụng, hướng của cuộn dây có phù hợp với da đầu hay không đều có ảnh hưởng quan trọng tới kết quả điều trị.

1.1.4 Các chỉ định. Có nhiều chỉ định nhưng chúng tôi chỉ nêu vài chỉ định chính được dung trong tâm thần  như dưới đây:

Trầm cảm:Trong thực tế , George và cộng sự nêu ra giả thiết rằng trong trầm cảm  có sự giảm chức năng của vùng vỏ não trán trước trái. Trong điều trị trầm cảm, SMT có tác dụng giúp cho hoạt động của vùng này trở về trạng thái bình thường. Các nghiên cứu về hình ảnh nơron cho thấy ở bệnh nhân trầm cảm có giảm sử dụng Glucose, khi kích thích nhân xám trung ương sẽ giải phóng Dopamine là một trong những chất có tạo ra sự ham muốn, sự hài lòng [7 ].

      Gần đây có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này và cũng đã có các nghiên cứu đối với các bệnh nhân dai dẳng với điều trị, tuy nhiên ý nghĩa lâm sàng của các kết quả này vẫn còn khiêm tốn. Kết quả của 23 nghiên cứu kiểm tra cho thấy sự khác nhau giữa tỷ lệ thuyên giảm của thang điểm trầm cảm khi điều trị bằng rSMT và tỷ lệ điều trị với chứng ( Placebo) là 20%, đặc biệt giai đoạn đáp ứng và thuyên giảm vẫn còn thấp ( 14% đối với rSMT và 8% Placebo) . Tuy nhiên hầu như các phép thử  này đều nghiên cứu trong dân số bị trầm cảm kháng thuốc, dạng kháng thuốc này cũng tương đương với đáp ứng kém khi điều trị bằng sốc điện. Các kết quả khi nghiên cứu 20 và 32 bệnh nhân khi điều trị bằng sốc điện không cao hơn so với khi điều trị  bằng kích thích từ xuyên sọ với tần số nhanh (rSMT) nhưng kết quả này dẫu sao cũng cao gấp 2 lần so với nhóm chứng.

      Thường điều trị trong thời gian 20 buổi. Việc điều trị trầm cảm kháng với điều trị thì các kết quả bị hạn chế hơn, với những dạng dai dẳng này thì số buổi có thể tăng hơn. Việc điều trị duy trì sau một đợt điều trị cấp vẫn chưa được công bố cho đến thời điểm hiện nay. Khi điều trị trầm cảm, người ta thường kích thích vùng vỏ não trán trước [5],[7].

Tâm thần phân liệt(TTPL) : Các kết quả khích lệ hơn khi điều trị tâm thần phân liệt (TTPL). Một số nghiên cứu cho thấy hiệu quả khá tốt đối với các triệu chứng phân liệt [10],[11],[14],[15].

Ảo giác:  Có hiệu quả mạnh và bền vững đối với ảo thanh dai dẳng kháng với điều trị thuốc.

Rối loạn ám ảnh cưỡng bức:Việc điều trị rối loạn ám ảnh xung động và sang chấn sau chấn thương sọ não vẫn còn khiêm tốn, vẫn chưa có đánh giá về điều trị  rối loạn hoảng sợ. Có hiệu quả khá tốt đối với các triệu chứng lo âu, sốt ruột.

     Theo M.C. Cann và cs, nghiên cứu những trường hợp dai dẳng với điều trị  cho thấy kết quả  đã được cải thiện khi điều trị 17 và 30 buổi bằng rSMT, các triệu chứng được cải thiện rõ rệt sau gần 1 tháng điều trị bằng phương pháp này.

1.1.5Chống chỉ định [3],[7],[13]

- Phụ nữ  đang có kinh , có thai.

 -Trẻ em < 16 tuổi. Người > 60 tuổi

-  Tiền sử có cơn co giật

- Tiền sử động kinh

- Những ng­ười đang đư­ợc đặt các phương tiện điều trị trong sọ não nh­ư các máy tạo nhịp, các loại dẫn l­ưu hoặc các bơm để bơm các chất như­  Insulin hoặc các thuốc.

- Những ng­ười đang đặt máy tạo nhịp tim ( pacemaker)

- Dãn mạch máu da ( tím da)

- Các bệnh tim mạch, huyết áp cao, huyết áp thấp, xơ vữa mạch máu não.

- Bệnh nhiễm khuẩn tiến triển .

- Bệnh gan, thận.

- Tăng nhãn áp.

- Lao tiến triển

-Tăng áp lực sọ não. U não. Chấn thương não và cột sống, dị tật cột sống

1.1.6 Các tác dụng phụ [2],[3] :

- Một số ít các trường hợp xuất hiện cơn động kinh.

- Các tác dụng phụ cũng có thể gặp do bộ phận kích thích bị nóng, cũng có thể do tiếng ồn lan toả  và các tác dụng không mong muốn trên những thần kinh và các cơ bên cạnh chỗ đặt máy. Tuy nhiên những tác dụng phụ lâu dài của SMT vẫn còn chưa biết.

- Một số x­ưng đỏ vùng đặt máy

- Một số bị choáng váng hoặc chóng mặt

1.1.7 Điều trị duy trì: Th­ường sau 1 tháng. Mỗi tuần 2 lần

1.1.8 Tái phát :  Một số ngư­ời có thể tái phát sau 1 năm. Một số khác tái phátsau một thời gian ngắn điều trị bằng rSMT.

      Một số nghiên cứu cho thấy có khoảng 20% bị tái phát sau 6 tháng điều trị bằng rSMT đối với các BN trầm cảm có loạn thần, trong khi đó tỷ lệ tái phát khi sốc điện là 40%, theo y văn thì tỷ lệ tái phát khi điều trị bằng sốc điện là 50%.

1.2. Một số khái niệm chung về ảo giác

1.2.1 Ảo giác [1]:là tri giác về một sự vật không hề có trong thực tại khách quan. Năm 1838, Esquirol đã thấy một số người bệnh tri giác thấy những đốitượng không có trong thực tại khách quan và tác giả gọi là ảo giác. Từ đó đến nay khái niệm này được sử dụng rộng rãi trong tâm thần học.

     1952. Kandinski cho rằng tính chất hết sức rõ ràng của ảo giác là ở chỗ được các cơ quan giác quan nhận thức một cách trực tiếp.

       Ảo giác là tri giác không có đối tượng. Ảo giác là một cảm xúc mạnh về tri giác trước kia mà không hề có một kích thích nào mới của ngoại cảnh phù hợp với nó. Đối với người bệnh, ảo giác là một tri giác có thật chứ không phải là một điều gì tưởng tượng. Trong ảo giác, người bệnh trông thấy, nghe thấy, ngửi thấy thật chứ không phải là tưởng tượng và hình dung ra.

1.2.2 Áp dụng kích thích từ xuyên sọ điều trị ảo thanh kéo dài:  

     Đây là một kỹ thuật không xâm lấn, vô hại và sự chính xác có thể tới từng cm2 và tới mili giây. Bệnh nhân khi được điều trị bằng phương pháp này thì vẫn trong tình trạng tỉnh táo, không co giật như liệu pháp sốc điện, vẫn có khả năng có các hoạt động nhận thức. Kích thích từ trường dễ thực hiện, kích thích được những tổ chức ở sâu, không bị trở ngại do tổ chức mỡ hay xương và không gây khó chịu. Ứng dụng chủ yếu là gây kích thích mà không xâm lấn lên con đường trung ương và ngoại vi.

1.2.2.1         Vị trí kích thích: Kích thích vỏ não vùng thái dương-đỉnh phải.

     Theo một số tác giả, kích thích vùng thái d­ương- đỉnh phải sẽ tác động đến vùng tri giác lời nói ở vỏ não do vậy sẽ có tác dụng tốt trong điều trị ảo thanh.

      Có hiệu quả mạnh và bền vững đối với ảo thanh dai dẳng kháng với điều trị thuốc. Một số nghiên cứu trên hình ảnh nơron ở BN có ảo giác đã cho thấy rSMT có tác dụng đặc biệt đối với vùng tri giác lời nói .

      Ngoài ra còn dùng kích thích vỏ não trán trước, vỏ não thị giác, trung tâm ngôn ngữ, tiểu não và dây thần kinh cảm giác ngoại vi. Nó dùng trong chẩn đoán, tiên lượng, theo dõi và điều trị[2].[3],[5],[7].

1.2.2.2         Thời gian kích thích:

    Điều trị hàng ngày, mỗi ngày 10-20 phút. Một số tác giả cho thấy, khi điều trị ảo thanh bằng SMT trong thời gian 10 buổi thì bệnh đã thuyên giảm, với cường độ 90% của ngưỡng vận động bằng rSMT trong thời gian 16 phút, các kết quả cho thấy giảm tơí 75% các ảo giác trong khi đó mức độ thuyên giảm của Placebo là không thay đổi, 50% BN thuyên giảm khi điều trị 10 buổi trong thời gian 15 tuần và 25% thuyên giảm trong 1 năm [5],[11],[15].

    Một số tác giả đã áp dụng thời gian điều trị ảo thanh kéo dài là 35 phút/ buổi và trong khoảng thời gian từ  4 đến 6 tuần [2].[3],[5],[8].

1.2.2.3         Tần số kích thích:

    Thường sử dụng tần số thấp nhưng thời gian mỗi buổi sẽ kéo dài hơn để điều trị ức chế. Những BN ảo thính cấp và tiến triển, không thuyên giảm trong thời gian 10 năm khi kích thích vỏ não vùng thái d­ương-đỉnh phải thì bệnh đã thuyên giảm .

. Theo một số tác giả [2].[3],[5],[11], tần số thường được áp dụng điều trị ảo thanh kéo dài là > 20 Hez.

Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1: Mẫu nghiên cứu:  Chúng tôi chọn 21 bệnh nhân TTPL paranoid có ảo thanh         

kéo dài được điêù trị tại các khoa của BVTTTW1 năm 2012- 2013. Các bệnh nhân

 nghiên cứu đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10 mục F20,0.

+ Tuổi : Từ 18-50.

+ Giới: Cả 2 giới

2.1.2 Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu  

- Trước điều trị kích thích từ  < N1 >: Bệnh nhân đã và đang dùng thuốc an thần

 kinh tại các khoa của bệnh viện nhưng không hết ảo thanh.

- Bắt đầu điều trị kích thích từ kết hợp với  thuốc < N2 >:Cácbệnh nhân đang điều

 trị bằng các thuốc ATK nhưng không hết ảo thanh, chúng tôi dùng kích thích từ  xuyên sọ kết hợp với ATK hiện BN vẫn đang sử dụng và giữ nguyên liều điều trị.

2.1.3  Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

     + Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Tâm thần Trung ương I

     + Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 12.2011 đến tháng 6. 2013.

2.1.3 Yêu cầu đối tượng nghiên cứu:

   +  Các bệnh nhân nghiên cứu phải được điều trị tại các khoa lâm sàng của Bệnh

 viện Tâm thần Trung ương trong thời gian từ  12.2011 đến  6. 2013.

   + Các bệnh nhân nghiên cứu phải có triệu chứng ảo thanh kéo dài và đang điều  trị

bằng các thuốc ATK nhưng ảo thanh vẫn không thuyên giảm.

2.1.4    Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:

- Các bệnh nhân được chọn phải có ảo thanh kéo dài và đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán Tâm thần phân liệt Paranoid theo ICD.10, mục F20.0

  -  Chúng tôi căn cứ vào mức độ 4 ( mục 2.2 ) để chọn bệnh nhân đang điều trị nội

 trú tại BVTTTW1 bằng các loại ATK từ 1 tháng trở lên nhưng ảo thanh chưa hết.

 

     2.1.5 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Loại trừ tất cả các bệnh nhân không có triệu chứng ảo thanh kéo dài.

- Loại trừ  các bệnh nhân có các chống chỉ định khi điều trị bằng kích thích từ.

2.2 Tiêu chuẩn đánh giá đáp ứng thuốc: Theo C.Page (1993) [4], tiêu chuẩn đáp ứng với thuốc an thần kinh gồm các mức độ sau:  

+ Mức độ 1:  Thuyên giảm toàn bộ các triệu chứng loạn thần trong một tuần.

+ Mức độ 2:  Đáp ứng với điều trị < 1 tháng, các triệu chứng lâm sàng giảm và trở lại làm việc bình thường.

+ Mức độ 3: Đáp ứng với điều trị thuốc chống loạn thần < 1 tháng nhưng còn tồn tại một số triệu chứng.

+ Mức độ 4: Thuyên giảm chậm ( không thuyên giảm lâm sàng ).

+Mức độ 5: Không thuyên giảm lâm sàng. Không đáp ứng với các loại thuốc an thần kinh < 6 tháng điều trị.

    +Mức độ 6: Không thuyên giảm lâm sàng. Không đáp ứng với các loại thuốc an

    thần kinh  > 6 tháng điều trị.

    2.3 Công cụ nghiên cứu:

    2.3.1.  Thiết kế bệnh án nghiên cứu theo mẫu riêng.  

2.3.2. Thông số kỹ thuật của máy kích thích từ xuyên sọ

- Nước sản xuất: Liên bang Nga

- Cấu hình đa năng bao gồm những thành phần sau:

Máy kích thích từ TMS:

+ Đầu kích thích hình số 8

+ Đầu kích thích lõi tròn ≥ 150 mm

+ Đầu kích thích lõi tròn ≥ 100 mm

Máy ghi điện cơ EMG

Máy vi tính

Máy in lazer

Lưu điện

Giá đỡ cuộn điện cực

Thông số kỹ thuật :

a- Các lĩnh vực áp dụng:

Kích thích từ xuyên sọ: Điều trị trầm cảm, tâm thần phân liệt, rối loạn ám ảnh, các hội chứng tâm thần khác. Một số bệnh thần kinh, khoa mắt, chấn thương chỉnh hình.

+ Có theo dõi quá trình kích thích từ xuyên sọ

+ Nghiên cứu thời gian dẫn cơ bản

+ Có theo dõi sự thay đổi phản ứng thần kinh vận động.

Máy ghi điện cơ ( EMG )

b. Hiển thị :

+ Trên máy TMS :

   Màn hình hiển thị số LED.

   Thông số hiển thị : Tất cả các thông số cài đặt kích thích từ

+ Trên máy vi tính:

Có cài đặt các thông số kích thích từ.

Kết quả phân tích bằng biểu đồ

Hiển thị dạng sóng chạy

Thông số bệnh nhân ( lưu kết quả )

c. Phần điều khiển TMS:

- Dạng sóng từ kích thích: Sóng đơn và sóng lặp lại

- Điều khiển kích thích từ : Bật/ tắt trên tay cầm cuộn kích thích

- Nhiệt độ đầu ( Coil )kích thích: Hiển thị trên máy

- Chế độ kích thích tự động ( cài đặt săn ) : Có

- Cường độ từ trường: 0 đến ≥ 2 T

- Khoảng thời gian xung ≤ 250 đến 330 ỡS

-Tần số cực đại tại công suất đỉnh: ≥ 5 Hz

- Dải tần số kích thích : 0,1 đến ≥ 30 Hz

- Khoảng thời gian truyền kích thích: ≤ 0,5 đến 10 giây

- Khoảng thời gian giữa các xung: ≤ 0,5 đến 30 giây

- Thời gian luân phiên lần điều trị : ≤ 0,5 đến 30 phút

- Thời gian chậm lại khi sạc tụ điện : 0 đến 9,9 giây

- Số lần kích thích tối thiểu trước khi cuộn kích thích vượt quá nhiệt độ ban đầu 25 C (tại công suất đỉnh và tần số đạt 1 Hz): Đầu kích thích hình số 8 là 260 lần

- Nguồn tiêu thụ tại công suất đỉnh : ≤ 1 KW

d. Phần điều khiển chung:

- Kết hợp đồng thời : TMS và EMG  -  Lưu điện: ≥ 1 KVA . -   Máy in : Lazer

- Kết nối TMS và EMG trên máy vi tính : Cổng USB

- Máy vi tính: CPU 3 GHz Intel petium IV; RAM 1 Gb; Harddisk 80 Gb; Monitor 17 inch LCD; ĐV Disk; Keyboard and mouse

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Cách tiến hành nghiên cứu: Nghiên cứu theo phương pháp Tiến cứu, phân tích từng trường hợp theo yêu cầu của mục tiêu nghiên cứu.

+ Đánh giá độc lập

+ Chỉ định kích thích tù xuyên sọ do các Bác sỹ khác chọn lựa

+ Nhóm kỹ thuật: Thực hiện y lệnh và ghi các kết quả vào phiếu theo dõi

2.4.2 Đánh giá sự thuyên giảm ảo thanh kéo dài.

+ Đánh giá sự thuyên giảm của ảo thanh khi điều trị bằng kích thích từ xuyên sọ kết hợp với thuốc:

     Theo phân loại của thang Panss thì ảo thanh có 7 mức độ ( Bảng dưới đây).

+ Xác định được thời gian và tần số phù hợp khi điều trị bằng kích thích từ 

xuyên sọ phối hợp với thuốc ATK.

Hành vi ảo giác theotiêu chuẩn đánh giá thang PANSS:

      Cơ sở để cho điểm: Các biểu hiện ngôn ngữ  và cơ thể trong lúc phỏng vấn

cũng như các ghi nhận về hành vi do nhân viên chăm sóc sức khoẻ ban đầu hoặc gia đình báo cáo lại. Hành vi ảo giác có các mức độ sau ( Phụ lục 2 ):

2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu:

-         Lập hồ sơ bệnh án theo mẫu riêng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

-         Thu thập thông tin nghiên cứu:

+ Cử các bác sĩ trong nhóm nghiên cứu trực tiếp đến các khoa lâm sàng, mỗi tuần 1 lần để tiến hành chọn lọc bệnh nhân theo trình tự sau:

- Gặp gỡ bác sĩ trưởng khoa: Nhờ trưởng khoa giúp đỡ và cho phép được tiến

hành chọn lọc bệnh nhân theo các tiêu chuẩn của đề tài nghiên cứu .

-         Tiếp xúc với gia đình người bệnh:

+ Yêu cầu người nhà hoặc người nắm rõ nhất diễn biến của bệnh kể lại chi tiết

quá trình bị bệnh của bệnh nhân.

+ Thông qua gia đình để tìm hiểu diễn biến của pha bệnh hiện tại, bị bệnh lần đầu hay lần thứ 2, nếu là lần thứ 2 thì biểu hiện bệnh có giống lần trước không?

+ Tìm hiểu khoảng thời gian thuyên giảm kể từ khi ra viện lần trước ( nếu có ), điều trị củng cố có đều không? Khả năng làm việc so với trước khi bị bệnh có giảm không, cũng như tìm hiểu về khả năng tái hoà nhập xã hội của bệnh nhân

+ Có các yếu tố sang chấn hay không, tìm hiểu vể trạng thái tâm lý của bệnh nhân đối với mức độ dung nạp của gia đình.

+ Bệnh tự xuất hiện hay do một nguyên nhân nào khác.

+ Gia đình hoặc họ hàng có ai bị bệnh giống như bệnh nhân không ?

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu lâm sàng( Dựa vào thăm khám bệnh nhân ):

2.4.5.1 Đối với nhóm nghiên cứu:

- Khám trực tiếp bệnh nhân:

+ Quan sát biểu hiện của người bệnh từ nét mặt, lời nói, cử chỉ, tư thế, dáng điệu, thái độ hợp tác với thầy thuốc cũng như theo dõi sự tập trung chú ý

+ Tiếp xúc với bệnh nhân tế nhị, khéo léo, tạo cảm giác dễ gần. Khi bệnh nhân mới vào viện, các thầy thuốc đặt các câu hỏi dễ hiểu và phù hợp với sự hợp tác

với thầy thuốc của bệnh nhân nhằm khai thác triệu chứng ảo thanh .

+ Hỏi tỷ mỷ thời gian xuất hiện của ảo thanh, thời gian tồn tại của ảo thanh, cường độ của ảo thanh có giảm khi điều trị thuốc không? Ảo thanh có gây trở ngại nhiều trong cuộc sống hàng ngày không ? Ảo thanh có xui khiến gì không ?

- Hội chẩn : Các bác sỹ trong khoa và các bác sỹ ở khoa khác cùng hỗ trợ nghiên cứu: Hội chẩn, chỉ định áp dụng tần số và thời gian theo các thể bệnh

- Tham khảo ý kiến : của các bác sỹ điều trị, y tá  ở các khoa nhằm tìm hiểu

thêm diễn biến của bệnh trong quá trình điều trị

- Tính khách quan: Các số liệu thu thập được ở các khoa lâm sàng sẽ được gửi cho chủ đề tài. Chủ đề tài có trách nhiệm xử lý các số liệu thu được. Chủ đề tài độc lập với các bác sỹ tham gia lấy số liệu.

2.4.5.2 Phối hợp với nhóm kỹ thuật:

+ Nhóm nghiên cứu

+ Nhóm kỹ thuật viên của khoa Hồi sức cấp cứu của bệnh viện:

   Đề nghị Ban giám đốc tạo điều kiện để nhóm kỹ thuật viên của khoa Hồi sức cấp cứu giúp đỡ nhóm nghiên cứu khi tiến hành kích thích từ cho BN.

     - Sử dụng đầu kích thích hình số 8

     - Vị trí, thời gian, tần số kích thích: có phiếu theo dõi cho từng BN

     - Thời gian tiến hành vào 9 h sáng hàng ngày từ  thứ 2 đến thứ 6.

     - Địa điểm kích thích: Phòng đặt máy của khoa HSCC

    -  Nhóm kỹ thuật của khoa HSCC phụ trách về kỹ thuật kích thích. Một điều dưỡng của khoa 4 hỗ trợ nhóm kỹ thuật trong và sau kích thích.

2.4.5.3 Đối với bệnh nhân:

   - Phải trong tình trạng tỉnh táo và hợp tác với thầy thuốc, khoẻ mạnh

   - Cho kiểm tra toàn thể :

           + Điện tim, XQ tim phổi, công thức máu

           + Điện não: Kiểm tra 2 lần, trước điều trị và kết thúc điều trị

   - Bệnh nhân phải được hội chẩn trong khoa, khi chắc chắn ảo thanh kéo dài mới được đưa vào diện nghiên cứu.

    - Mỗi BN được kích thích 1 tháng liên tục, mỗi ngày 1 lần, mỗi tuần 5 ngày.

    -  Nếu bệnh nhân thấy khó chịu thì dừng ngay kích thích.

    -  Giám sát chặt chẽ bệnh nhân trong tuần đầu điều trị bằng kích thích từ, ghi chép chi tiết các tác dụng phụ (theo mẫu ) nếu có. Bệnh nhân nghiên cứu luôn được đặt trong chế độ quản lý cấp 1.

2.5  Áp dụng điều trị bằng máy kích thích từ xuyên sọ

  Quá trình điều trị sẽ phải tuân thủ tuần tự như các mục sau:

2.5.1 Vị trí kích thích:

  Kích thích vùng thái d­ương- đỉnh phải

2.5.2 Tần số kích thích:Theo một số tác giả [2].[3],[5],[11], tần số thường được áp

dụng điều trị ảo thanh kéo dài là > 20 Hez.

Tần số kích thích áp dụng trong nghiên cứu: Chúng tôi áp dụng với tần số thấp hơn vì người Việt Nam thường nhỏ hơn người các châu lục khác. Mặt khác, không thấy có tài liệu nào nói về điều trị kích thích từ phối hợp với thuốc an thần kinh mà đa số chỉ nói về kích thích từ đơn thuần. Nghiên cứu của chúng tôi là phối hợp kích thích từ với điều trị bằng ATK, do vậy chúng tôi áp dụng với các tần số thấp hơn khuyến cáo, bắt đầu từ 15 Hez tăng dần đến 30 Hez là trong giới hạn an toàn.   

     Theo Roland Dardennes; Bruno Etain; Alexandra Pham-Scottes [2], khi kích thích vùng thái dương đỉnh phải để điều trị ảo thanh kéo dài trong thời gian 10 buổi thì ảo thanh đã giảm.  Do vậy chúng tôi vận dụng vào từng nấc 10 ngày để điều trị kích thích từ phối hợp với thuốc ATK.

        Các bước được áp dụng theo các giai đoạn sau :

n     Giai đoạn 1:  Khởi đầu điều trị với tần số 15 Hez.

 + Nếu sau 10 ngày mà triệu chứng ảo thanh thuyên giảm thì chúng tôi vẫn duy trì liều điều trị với tần số 15 Hez đến khi hết ảo thanh.

+ Sau 10 ngày mà ảo thanh không hết thì chúng tôi chuyển sang giai đoạn tiếp theo   ( giai đoạn 2 ).

n     Giai đoạn 2: Áp dụng tần số 25 Hez

+ Nếu sau 10 ngày mà triệu chứng ảo thanh thuyên giảm thì chúng tôi vẫn duy trì liều điều trị với tần số 25 Hez đến khi hết ảo thanh.

+ Sau 10 ngày mà ảo thanh không hết thì chúng tôi chuyển sang giai đoạn tiếp theo ( giai đoạn 3 ).

n     Giai đoạn 3: Áp dụng tần số 30 Hez

    + Nếu sau 10 ngày mà triệu chứng ảo thanh thuyên giảm thì chúng tôi vẫn duy trì liều điều trị với tần số 25 Hez đến khi hết ảo thanh.

    + Sau 10 ngày mà triệu chứng ảo thanh không hết thì chúng tôi dừng điều trị, coi như bệnh nhân không đáp ứng với điều trị bằng kích thích từ .

2.5.3 Thời gian kích thích:

    Nhiều tác giả đã áp dụng thời gian điều trị ảo thanh kéo dài là 35 phút/ buổi [2].[3],[5],[8]. Thời gian nghỉ giữa các đợt xung điện là 5 giây [6].

Thời gian kích thích áp dụng trong nghiên cứu:

- Tổng số thời gian điều trị:Mỗi tuần 5 buổi từ  thứ 2 đến thứ 6. Bệnh nhân được điều trị 30 buổi.

+ Giai đoạn 1:  Thời gian 15 phút/ buổi, Trong 10 ngày nếu các triệu chứng thuyên giảm thì vẫn áp dụng điều trị cho đến khi hết các triệu chứng ảo thanh.

    Nếu hết ảo thanh sẽ dừng điều trị kích thích từ. Nếu các ảo thanh không hết thì sẽ chuyển sang giai đoạn 2.

+ Giai đoạn 2:  Thời gian 20 phút/ buổi. Trong 10 ngày nếu các triệu chứng thuyên giảm thì vẫn áp dụng điều trị cho đến khi hết các triệu chứng ảo thanh.

    Nếu hết ảo thanh sẽ dừng điều trị kích thích từ. Nếu ảo thanh không hết thì sẽ chuyển sang giai đoạn 3 .

+ Giai đoạn 3:  Thời gian 30 phút/ buổi. Trong 10 ngày. Nếu các triệu chứng ảo thanh không hết sẽ coi như không thuyên giảm và chấm dứt điều trị.

2.4. Xử lý số liệu:

    Các số liệu được xử lý theo chương trình Epiinfo 6.04

2.5             Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu:

   Trước khi tiến hành lấy số liệu nghiên cứu, chúng tôi phải thông báo cho người bệnh và gia đình biết được mục đích nghiên cứu áp dụng kỹ thuật mới:

- Đây là phương pháp mới và vô hại đối với BN.

- Một số tác dụng phụ nếu có

- Ý nghĩa lớn của phương pháp mới là điều trị hết hoặc giảm nhiều ảo thanh kéo dài đã kháng với các loại thuốc ATK.

    - Mọi thông tin về BN sẽ được giữ kín, không thông báo rộng rãi về các yếu

tố liên quan đến quá trình phát bệnh của BN, không ghi tên chính xác của BN

mà chỉ ghi bằng 1 hoặc 2 chữ cái tên của họ.

    - Khi người bệnh và gia đình chấp nhận thì phải có chữ ký xác nhận, khi đó chúng tôi mới tiến hành các thủ tục cần thiết của qui trình khai thác các thông tin để lấy số liệu nghiên cứu. Trong quá trình điều trị nếu BN và gia đình từ chối thì sẽ dừng điều trị bằng kích thích từ.

   Đề cương nghiên cứu đã được hội đồng khoa học của Bệnh viện Tâm thần

trung ương 1 thông qua và cho tiến hành nghiên cứu.

   Kết quả nghiên cứu, các ý kiến đề xuất nhằm mục đích nâng cao chất lượng

khám, điều trị và dự phòng nhằm phát hiện bệnh sớm .

 

 

 

Chương 3

 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

      Bảng 3.1: Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi tại thời điểm nghiên cứu

                                                BNNC

Lứa tuổi

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

16 - 25

6

28,57

26 - 35

8

38,09

36 - 45

4

19,05

46 - 50

3

14,29

Tổng số

21

100,00

 

   Lứa tuổi từ 26-35 chiếm tỷ lệ cao nhất ( 38,09 % ), thấp nhất là lứa tuổi 46-50 chỉ chiếm 14,29%.

Bảng 3.2.       Phân nhóm bệnh nhân theo giới tính.

                                                BNNC

Giới tính

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Nam

6

28,57

Nữ

15

71,43

Tổng số

21

 

 

Bệnh nhân nữ có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn nam

 

Biểu đồ 1: Tỷ lệ nam và nữ

 

Bảng 3.3. Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân nghiên cứu.

                                                BNNC

Hôn nhân

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Chưa kết hôn

15

71,43

Đã kết hôn

6

28,57

Tổng số

21

100,00

 

Đa số bệnh nhân nghiên cứu chưa xây dựng gia đình

Bảng 3.4. Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo trình độ học vấn.

 

                                                BNNC

Học vấn    

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Trung học cơ sở

9

42,86

Trung học phổ thông

11

52,38

ĐH-CĐ-THCN

1

4,76

Tổng số

21

100,00

 

Bệnh nhân nghiên cứu có trình độ trung học phổ thông chiếm tỷ lệ cao nhất

Bảng 3.5. Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo nơi cư trú.

                                                BNNC    

Nơi cư trú

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Khu vực thành thị

4

19,04

Vùng đồng bằng Bắc bộ

10

47,62

Miền núi

4

19,09

Vùng biển

 3

14,25

Tổng số

21

100,00

 

Vùng đồng bằng Bắc bộ có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất

 

 

 

 

3.2      Đặc điểm ảo thanh ở bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.6: Các mức độ  của ảo thanh theo tiêu chuẩn thang Panss

Mức độ

ảo thanh

                        BNNC    

Biểu hiện lâm sàng

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

6

AT liên tục, chi phối rõ rệt tư duy, hành vi

9

42,85

5

AT thường xuyên có xu hướng ảnh hưởng đến tư duy, hành vi

8

38,09

4

AT thường xuyên, không liên tục, hành vi bị chi phối nhẹ

2

9,53

3

AT có nội dung rõ ràng, không thường xuyên, không chi phối tư duy, hành vi

2

9,53

 

Tổng số

21

100,00

 

   Ảo thanh liên tục chi phối rõ rệt tư duy, hành vi (mức độ 6) gặp nhiều nhất trong số BN nghiên cứu ( chiếm 42,85%)

   Ảo thanh ít chi phối hành vi và tư duy ( mức độ 3 và 4 ) chiếm tỷ lệ thấp hơn, mỗi loại chỉ chiếm 9,53%.

Bảng 3.7: Các loại  ảo thanh gặp trong nghiên cứu

                                                BNNC    

Các biểu hiện

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Tiếng nói trong đầu xui khiến bệnh nhân

8

38,09

Tiếng người trong đầu đe dọa bệnh nhân

3

14,25

Tiếng nói trong đầu bình luận về bệnh nhân

1

4,76

Tiếng nói trong đầu khen, chê bệnh nhân

2

9,53

Tiêng nói trong đầu nói chuyện với bệnh nhân

4

19,09

Tiếng chim, tiếng ve kêu, tiếng giun dế

2

9,53

Tiếng 0 0, tiếng inh bên tai

1

4,76

Tổng số

21

100,00

   Tiếng người nói trong đầu là ảo thanh gặp nhiều nhất ( 38,09% ), ảo thanh bình

phẩm và tiếng inh trong tai chiếm tỷ lệ thấp nhất 4,76%

Bảng 3.8  Mức độ và thời gian mắc ảo thanh ở BNNC theo thang Panss

              Mức độ               

 

Thời gian

 

n

Mức độ

6

Mức độ

5

Mức độ

4

Mức độ

3

Mức độ

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

< 6 tháng

1

1

100,0

0

 

0

 

0

 

0

 

6 th - < 2 năm

5

4

80,0

1

20,0

0

 

0

 

0

 

Từ  2 -< 5 năm

10

4

40,0

5

50,0

1

10,0

0

 

0

 

Từ  5 -10 năm

5

0

 

2

40,0

1

20,0

2

40,0

0

 

Tổng số

21

9

42,85

8

38,09

2

9,53

2

9,53

0

 

 

     Có 1 bệnh nhân mắc bệnh < 6 tháng nhưng lại có mức độ nặng nhất. Tiếp đến là nhóm BN có thời gian mắc bệnh từ 6 tháng đến < 2 năm. Không có BN nào mắc bệnh từ 5 đến 10 năm ở mức độ 6.

    Mức độ 3 chỉ gặp ở nhóm BN có thời gian mắc bệnh từ 5 đến 10 năm.

Biểu đồ 2: Thời gian mắc bệnh của BNNC

 

3.3      Đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

3.3.1 Thời gian kích thích từ và tần số trong nghiên cứu

Thời gian kích thích từ 15 phút và tần số 15Hez( 10 ngày )

Bảng 3.9  Mức độ thuyên giảm của ảo thanh theo thang Panss

 

STT

                     BNNC

 Biểu hiện

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

AT liên tục, chi phối rõ rệt

9

42,85

2

 9,53

2

AT thường xuyên

8

38,09

9

42,85

3

AT thường xuyên, không liên tục

2

9,53

4

19,09

4

AT không thường xuyên,

2

9,53

2

  9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

4

19,09

 

Tổng số

21

100,0

21

100,0

 

  Sau 10 ngày KTT với tần số 15 Hez và thời gian 15 phút thì ảo thanh liên tục chi phối rõ rệt hành vi của BN thuyên giảm nhiều nhất.

    Kết quả sau 10 ngày KTT với tần số và thời gian trên đã có 4 BN hết ảo thanh.

Biểu đồ 3:  Ảo thanh trước và sau KTT < 15HZ và 15 phút >

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 25 Hez( 10 ngày )

Bảng 3.10 Mức độ thuyên giảm của ảo thanh

STT

                     BNNC

 Biểu hiện

N1=17

N2=17

n

%

n

%

1

AT liên tục, chi phối rõ rệt

2

11,76

1

5,88

2

AT thường xuyên

9

52,94

6

35,29

3

AT thường xuyên, không liên tục

4

23,53

3

17,65

4

AT không thường xuyên,

2

11,76

5

29,41

5

Không có ảo thanh

0

0

2

11,76

 

Tổng số

17

100,0

17

100,0

 

     Sau 10 ngày KTT với tần số 25 Hez với thời gian 20 phút, các mức độ ảo thanh  đều có sự thuyên giảm từ mức 6 giảm đến mức 3,(theo thang PANSS gồm 7 mức độ ).

     Có 2 BN giảm hết ảo thanh  chiếm 11,76% .

 

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 30 Hez (10 ngày )

Bảng 3.11 Mức độ thuyên giảm của ảo thanh

STT

                     BNNC

 Biểu hiện

N1=15

N2=15

n

%

n

%

1

AT liên tục, chi phối rõ rệt

1

6,67

0

0

2

AT thường xuyên

6

40,0

4

26.67

3

AT thường xuyên, không liên tục

3

20,0

4

26,67

4

AT không thường xuyên,

5

33,33

2

13,33

5

Không có ảo thanh

0

0

5

33,33

 

Tổng số

15

100,0

15

100,0

 

     Trong số 15 BN tiếp tục KTT với tần số 30 Hez và thời gian 20 phút, đã có 5 BN hết ảo thanh, chiếm 33,33 %.

3.4                                                                                                                                                                                                                                                                                                              Đánh giá về hiệu quả của kích thích từ

Bảng 3.12  Mức độ thuyên giảm sau kích thích từ theo thang Panzz

              Ảo thanh              

 

Nhóm

 

n

Mức độ

6

Mức độ

5

Mức độ

4

Mức độ

3

Mức độ

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

N1

21

9

42,85

8

38,09

2

9,53

2

9,53

0

0

N2

21

0

0

4

19.09

4

19,09

2

9,53

11

52,38

 

      Sau đợt điều trị kích thích từ,  có 11 BN hết ảo thanh chiếm 52,33%, số BN có ảo thanh ở mức độ 5 cìn  chiếm 19,09 %, ảo thanh còn xuất hiện nhiều lần trong ngày. Trước khi KTT, có 9BN có ảo thanh xuất hiện liên tục chi phối rõ rệt hành vi và tư duy của BN khiến họ rất khó chịu. Sau KTT không còn BN nào ở mức 6.

      Sau đợt KTT, trong tổng số 21 BN thì còn 4 BN ảo thanh vẫn còn xuất hiện nhiều lần trong ngày ( mức 5 ), chiếm 19,09.

Biểu đồ 4  : Hiệu quả Kích thích tù

 

 

3.4.2  Đánh giá về tần số và thời gian kích thích từ

Bảng 3.13 Đánh giá hiệu quả về thời gian và tần số sau kích thích từ

              Ảo thanh              

 

Nhóm

 

n

Mức độ

6

Mức độ

5

Mức độ

4

Mức độ

3

Mức độ

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Trước kích thích từ

21

9

42,85

8

38,09

2

9,53

2

9,53

0

 

Tần số 15 HZ-15 phút

21

2

9,53

9

42,85

4

19,09

2

9,53

4

19,09

Tần số 25 HZ -20 phút

17

1

5,88

6

35,29

3

17,65

5

29,41

2

11,76

Tần số 30 HZ-20 phút

15

0

0

4

26,67

4

26,67

2

13,33

5

33,33

  

  KTT  với tần số 30 Hez có tỷ lệ BN hết ảo thanh cao nhất ( 33,33% )

Biểu đồ 5: Hiệu quả của kích thích từ với các loại tần số

 

 

 

3.5 Mức độ thuyên giảm

Bảng 3.14 Các biểu hiện của ảo thanh trước và sau kích thích từ

STT

                     BNNC

 Các biểu hiện

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Tiếng nói trong đầu xui khiến BN

8

38,09

2

9,53

2

Tiếng người trong đầu đe dọa BN

3

14,25

0

0

3

Tiếng nói trong đầu bình luận về BN

1

4,76

1

4,76

4

Tiếng nói trong đầu khen, chê BN

2

9,53

2

9,53

5

Tiêng nói trong đầu nói chuyện với BN

4

19,09

2

9,53

6

Tiếng chim, tiếng ve kêu, tiếng giun dế

2

9,53

2

9,53

7

Tiếng 0 0, tiếng inh bên tai

1

4,76

1

4,76

8

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,

21

100,0

   Đa số các biểu hiện của ảo thanh đều thuyên giảm, Tuy nhiên có 2 dạng ảo thanh là  ảo thanh bình phẩm và ảo thanh tiếng inh bên tai là không giảm.

Bảng 3.15  Tần xuất xuát hiện của ảo thanh trước và  sau kích thích từ

STT

                     BNNC

Số lần xuất hiện

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Liên tục cả ngày

9

42,85

0

0

2

Nhiều lần trong ngày

8

38,09

4

19,09

3

Khoảng 4-5 lần / ngày

4

19,09

4

19.08

4

Vài lần trong tuần

0

0

2

9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,

21

100,

     

    Ảo thanh xuất hiện liên tục trong ngày thuyên giảm nhiều nhất. Sự thuyên giảm 

theo xu hướng từ liên tục cả ngày       nhiều lần trong ngày        4-5 lần / ngày      vài lần trong tuần.  Ảo thanh liên tục trong ngày khiến BN rất khó chịu .

Biểu đồ 6: Mức độ thuyên giảm sau KTT

Bảng 3.16  Mức độ chi phối hành vi của  ảo thanh trước và sau kích thích từ

STT

                     BNNC

 Ảo thanh

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Chi phối rõ rệt tư  duy, hành vi

9

42,85

0

0

2

Chi phối nhiều tư  duy, hành vi

8

38,09

4

19,09

3

Chi phối nhẹ tư  duy, hành vi

2

9,53

4

19,09

4

Không chi phối tư  duy, hành vi

2

9,53

2

9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,0

21

100,0

 

   Ảo thanh chi phối rõ rệt tư duy, hành vi thuyên giảm nhiều nhất. Ảo thanh chi phối

thuyên giảm từ chi phối nhiều đến không chi phối hành vi và tư duy của BN

Biểu đồ7 : Mức độ chi phối hành vi của ảo thanh trước và sau KTT

 

3.5                                                                                                                                                                                                                                                                                                             Liên quan giữa mức độ thuyên giảm của ảo thanh với kích thích từ

Bảng 3.17. Liên quan giữa thời gian mắc ảo thanh với KTT

              Ảo thanh              

 

Nhóm

 

n

Mức độ

6

Mức độ

5

Mức độ

4

Mức độ

3

Mức độ

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

< 6 tháng

1

0

 

0

0

0

 

0

 

1

100

6 th - < 2 năm

5

0

 

1

20,0

0

 

0

 

4

80,0

Từ  2 -< 5 năm

10

0

0,0

2

20,0

3

30,0

1

10,0

4

40,0

Từ  5 -10 năm

5

0

0,0

1

20,0

1

20,0

1

20,0

2

40,0

Tổng số

21

0

0,0

4

19,09

4

19,09

2

9,53

11

52,38

 

     Có 1 BN có thời gian mắc bệnh < 6 tháng đã giảm hết ảo thanh. Tiếp đến là nhóm BN có thời gian mắc bệnh từ  6 thang đến < 2 năm .Thuyên giảm ít nhất là nhóm có

thời gian mắc bệnh từ 5- 10 năm.  Như  vậy, thời gian mắc ảo thanh càng ngắn thì

hiệu quả điều trị càng cao

 Biểu đồ 8 : Thời gian và mức độ ảo thanh trước và sau KTT

 

Bảng 3.18. Liên quan giữa mức độ nặng của ảo thanh với kích thích từ

STT

                     BNNC

 Ảo thanh

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Mức độ 6

9

42,85

0

0, 0

2

Mức độ 5

8

38,09

4

19,09

3

Mức độ 4

2

9,53

4

19,09

4

Mức độ 3

2

9,53

2

9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,0

21

100,0

 

    Mức 6 có 9 BN (42,85 % ), sau KTT  không còn  BN nào. Các mức độ thuyên giảm theo hướng từ nặng đến nhẹ

 

 

3.6                                                                                                                                                                                                                                                                                                             Đánh giá độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị

ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

3.3.3 Đánh giá về các tác dụng không mong muốn

Bảng 3.19   Tác dụng không mong muốn về tim mạch

Tác dụng phụ

 

Tần số

Số

Lượng

Mạch nhanh

Mạch chậm

Loạn nhịp

H.A hạ

H.A tăng

Khác

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 HZ

12

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 25 HZ

11

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 30 HZ

10

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tổng số

33

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

     Toàn bộ 21 BN đều thấy rất dễ chịu ngay lần KTT đầu tiên, các lần tiếp sau cũng đều thấy rất dễ chịu và thoải mái, cảm thấy nhẹ nhõm hẳn đầu óc, bớt nghĩ lung tung, đêm ngủ ngon giấc hơn. Không thấy BN nào có biểu hiện khó chịu như đau vùng trước tim, mạch và huyết áp vẫn bình thường sau mỗi buổi KTT

Bảng 3.20   Tác dụng không mong muốn về thần kinh

Tác dụng phụ

 

Tần số

Số

lần

kích

thích

Choáng váng

Buồn nôn

Nôn

Động kinh

Co

giật

Biến đổi điện não

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 HZ

12

1

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 25 HZ

11

0

 

1

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 30 HZ

10

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tổng số

33

1

 

1

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Không có BN nào có tác dụng không mong muốn về thần kinh

Bảng 3.21  Tác dụng không mong muốn khác

Tác dụng phụ

 

Tần số

Số

Lượng

Đau đầu

Xưng đỏ

Đau rát

Khó chịu

Bí đái

Chướng bụng

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 HZ

12

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tần số 25 HZ

11

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tần số 30 HZ

10

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tổng số

33

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Không có BN nào có các tác dụng không mong muốn như ở bảng trên

Chương 4:  BÀN LUẬN

4.1 Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

Phân nhóm bệnh nhân theo tuổi tại thời điểm nghiên cứu

        Lứa tuổi từ 26-35 chiếm tỷ lệ cao nhất ( 38,09 % ), thấp nhất là lứa tuổi 46-50 chỉ chiếm 14,29%.  Trong số 21 BN thì có 15 BN có thời gian mắc bệnh trên 2 năm đến 10 năm. Theo nhiều tác giả, tuổi khởi phát của tâm thần phân liệt paranoid thường ở lứa tuổi 25. Tâm thần phân liệt có thể khởi phát sớm khi BN mới 10 tuổi hoặc > 45 tuổi, đa số ở lứa tuổi từ 15-25  [3]

Phân nhóm bệnh nhân theo giới tính

      Số BN nữ  có ảo thanh kéo dài chiếm tỷ lệ 71,43%, trong khi BN nam chỉ chiếm 28,57%. Có thể BN nữ chiếm tỷ lệ cao hơn là do gia đình ít quan tâm hơn so với BN nam, nhiều gia đình không điều trị mà chỉ cúng vái, khi bệnh nặng với các biểu hiện kích động đập phá hoặc tự  sát do ảo thanh chi phối, lúc đó gia đình mới cho đi viện.

Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân nghiên cứu

      BN chưa kết hôn chiếm tỷ lệ cao (71,43 % ), có thể vì chưa xây dựng gia đình nên không muốn cho con đến bệnh viện tâm thần điều trị vì sợ mang tiếng, đến khi bệnh nặng, ảo thanh kéo dài, nhiều gia đình tự điều trị hoặc đến các bác sỹ tư  nhưng không kết quả thì mới cho đi viện

Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo trình độ học vấn

    ĐH-CĐ-THCN có tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất (4,76 % ),  số lượng BN có trình độ này vào viện không nhiều vì có thể họ và gia đình đã ý thức được bệnh của BN nên đã tích cực chạy chữa, do vậy tỷ lệ BN mắc ảo thanh kéo dài không cao.

Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo nơi cư trú    Vùng đồng bằng Bắc bộ chiếm tỷ lệ cao nhất (47,62 % ), có thể do Bệnh viện tâm thần trung ương nằm ở khu vực này nên BN trong vùng đến nhiều hơn so với các vùng khác.

4.2     Đặc điểm ảo thanh ở bệnh nhân nghiên cứu

4.2.1    Các mức độ  của ảo thanh theo tiêu chuẩn thang Panss

    Theo tiêu chuẩn thang Panss, ảo thanh được chia làm 6 mức độ từ nhẹ nhất ( mức độ 1)  đến nặng nhất ( mức độ 6 )..

     Ảo thanh liên tục, chi phối rõ rệt tư duy, hành vi của BN chiếm tỷ lệ cao nhất (42,85% ), tiếp đến là ảo thanh thường xuyên có xu hướng ảnh hưởng đến tư duy, hành vi chiếm tỷ lệ 38,09 %. Thấp nhất là nhóm  ít hoặc không chi phối hành vi của BN. Như vậy, đa số BN vào viện trong tình trạng tư duy và hành vi bị chi phối mạnh bởi ảo thanh. Chính sự chi phối mạnh này đã dẫn BN đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và những người xung quanh cho nên gia đình buộc phảI đưa BN vào viện.

4.2.2 Các loại  ảo thanh gặp trong nghiên cứu

   Tiếng người nói trong đầu xui khiến bệnh nhân là ảo thanh gặp nhiều nhất ( 38,09% ), có thể là một hoặc nhiều người nói, có thể là giọng đàn ông hoặc đàn bà.

   Tiếng nói trong đầu phát ra và BN nghe rất rõ ràng từng chi tiết, rất ồn ào khiến BN rất khó chịu, nhiều BN phải lấy tay bịt 2 tai lại, nét mặt thường căng thẳng hoảng sợ.

    Tiếng nói trong đầu thường ra lệnh bắt BN phải thực hiện hành vi nào đó hoặc chửi BN, hoặc bàn tán với nhau về BN, khen hoặc chê BN. Trong 21 BN thì có 1 BN đã 2 lần lao đầu vào ô tô do ảo thanh bắt phải làm như  vậy), 1 BN khác lăn lộn vật vã,, 3 BN tự sát do ảo thanh xui khiến .

    Tiếng người trong đầu đe dọa bệnh nhân cũng chiếm tỷ lệ cao trong nghiên cứu (14,25. Loại ảo thanh này thường biểu hiện dưới dạng tiếng người nói trong đầu đe dọa BN, có thể là giọng người nói, có thể là giọng của người đã chết hoặc ma quỷ khiến BN rất căng thẳng hoảng sợ. Có thể đe dọa giết cả nhà, đe dọa giết con hoặc đe dọa bắt đi tù...cho nên BN thường chạy trốn khi thấy có người lạ đến vì sợ công an đến bắt đi tù...

      Ảo thanh thường xuất hiện liên tục cả ngày, ảo thanh chỉ hết khi BN ngủ. Người bệnh không làm được gì mà suốt ngày căng thẳng, đờ đẫn, hoảng sợ.

      1 BN có tiếng chim hót suốt ngày khiến BN đinh tai nhức óc nên lúc nào cũng bịt chặt 2 tai . Có BN luôn nghe thấy tiếng ve kêu, tiếng giun dế kêu, trong phòng yên tĩnh và đêm khuya thanh vắng thì nghe càng rõ hơn. Tiếng ve kêu một bên tai, BN này đã đi khám và điều trị nhiều lần tại chuyên khoa tai mũi họng nhưng không khỏi, chiếu chụp nhưng cũng không thấy có tổn thương gì .

   Có 4 BN có tiếng nói trong đầu đàm thoại nói chuyện với mình với nhiều chủ đề khác nhau, người ngoài nhận thấy BN nói lẩm bẩm một mình như nói chuyện với ai đó và có lúc tự  nhiên cười, trùm chăn cười, khi BN lẩm bẩm một mình thì BN ít quan tâm chú ý đến các sự việc xung quanh, vì vậy có thể BN giật mình khi gọi hoặc chạm vào mình.

4.2.2    Mức độ và thời gian mắc ảo thanh ở BNNC theo thang Panss

     Ở mức độ 6, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm BN có thời gian mắc bệnh < 6 tháng đến < 5 năm. BN có thời gian mắc bệnh trong khoảng thời gian > 3 năm thường ở các mức độ 3 hoặc 4, tuy vậy, sau điều trị thì nhóm có mức độ 5 và 6 thuyên giảm mạnh nhất có thể là do thời gian mắc bệnh ngắn hơn Có 1 bệnh nhân mắc bệnh < 6 tháng nhưng lại có mức độ nặng nhất. Tiếp đến là nhóm BN có thời gian mắc bệnh từ 6 tháng đến < 2 năm. Không có BN nào mắc bệnh từ 5 đến 10 năm ở mức độ 6.

    Mức độ 3 chỉ gặp ở nhóm BN có thời gian mắc bệnh từ 5 đến 10 năm ( Biểu đồ 2  Đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

4.3.1 Thời gian kích thích từ và tần số trong nghiên cứu

4.3.1.1 Thời gian kích thích từ 15 phút và tần số 15Hez( 10 ngày )

       Ngay sau lần kích thích từ đầu tiên, tất cả BN đều thấy dễ chịu và thoải mái hơn, hầu hết BN đều thấy ảo thanh giảm rõ rệt sau vài lần kích thích từ. Sau khoảng 4 đến 5 lần kích thích từ  thì ảo thanh ở đa số BN cứ thế giảm dần, tuy nhiên có một số BN ảo thanh lại có xu hướng quay lại nhưng cường độ nhỏ hơn.

      Trong số các loại ảo thanh thì ảo thanh thuộc mức 6  thuyên giảm nhiều nhất.

Sau 10 ngày KTT với tần số 15 Hez và thời gian 15 phút thì ảo thanh liên tục chi phối

rõ rệt hành vi của BN thuyên giảm từ  42,85% xuống còn 9,53 %. Các BN ở mức 6 giảm xuống mức 5 nên mặc dù BN ở mức 5 cũng có sự thuyên giảm mạnh nhưng sau 10 ngày số BN ở mức 5 lại tăng từ 8 BN lên 9 BN.

    Kết quả sau 10 ngày KTT với tần số 15 Hez và thời gian 15 phút  đã có 4 BN hết ảo thanh ( Biểu đồ 3 ) .

4.3.1.2 Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 25 Hez( 10 ngày )

     Đợt 1 điều trị 10 ngày đã có 4 BN hết ảo thanh, còn lại 17 BN vẫn còn ảo thanh trong đó vẫn còn 2 BN ảo thanh liên tục cả ngày, nhưng cường độ ảo thanh tất cả các BN này đều giảm hơn so với trước khi kích thích từ..

    Đợt 2 sau 10 ngày điều trị KTT với tần số 25 Hez và thời gian 20 phút , ảo thanh ở BN đều tiếp tục thuyên giảm.

    AT liên tục, chi phối rõ rệt giảm thêm 1 BN nên chỉ còn lại 1 BN

     Sau đợt 2, tiếp tục 2 BN hết ảo thanh

4.3.1.3 Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 30 Hez (10 ngày )

     Sau 2 đợt mỗi đợt 10 ngày đã có 6 BN hết ảo thanh. Cường độ ảo thanh ở số BN còn lại cũng giảm hơn nhiều so với trước khi điều trị kích thích từ.

    Khoảng 4 ngày đầu điều trị với tần số 30 Hez và thời gian 30 phút như trong phương pháp nghiên cứu đã ghi, với tần số và thời gian như vậy thì ảo thanh thuyên giảm khá tốt, dễ chịu hơn nhiều. và đã có 2 BN hết  ảo thanh, ảo thanh thưa dần và mờ nhạt hẳn, nhưng do máy bị cháy cuộn biến thế nên chỉ dùng được ở tần số 30 Hez với thời gian 20 phút nên kết quả điều trị hạn chế hơn, không thuyên giảm nhanh như khi kích thích từ với thời gian 30 phút..

     Kết  thúc quá trình nghiên cứu, sau 10 ngày của đợt thứ 3, tiếp tục có thêm 3 BN nữa hết ảo thanh sau khi khắc phục được sự cố máy cháy biến thế nhưng chỉ dùng được với tần số 30 Hez và thời gian 20 phút. Số BN hết ảo thanh đợt 3 là 5 BN

     Còn 4 BN vẫn còn ảo thanh xuất hiện nhiều lần trong ngày nhưng cường độ giảm hơn so với trước khi điều trị kích thích từ.

4.3.2    Đánh giá về hiệu quả của kích thích từ

4.3.2.1         Mức độ thuyên giảm sau kích thích từ theo thang Panzz

   Biểu đồ 4 cho thấy có sự thuyên giảm rõ rệt của các mức độ ảo thanh theo tiêu chuẩn thang Panzz.

     Sau điều trị, không còn BN nào ở mức độ 6. Mức độ nặng của ảo thanh chuyển dần về mức độ nhẹ. Mức độ 5 còn 4 BN (38,09 % ) nhưng cường độ ảo thanh nhẹ hơn.

      Có 11 BN hết ảo thanh ( chiếm 52,38 %)      

4.3.2.2 Đánh giá về tần số và thời gian kích thích từ

Đánh giá hiệu quả về thời gian và tần số sau kích thích từ

    Đợt 1:  với tần số 15Hez, thời gian 15 phút:  Tất cả BN đều thấy rất dễ chịu ngay từ lần đầu tiên. Đặc biệt, BN có ảo thanh mức độ 6 thuyên giảm rất rõ rệt, sau đợt đầu đã có tới 7/9 BN mức 6 chuyển xuống các mức nhẹ hơn . Kết thúc đợt 1 trong 10 ngày đã có 4 BN hết ảo thanh, cả 4 BN này đều có thời gian mắc bệnh < 6 tháng đến < 2 năm.

     Đợt 2:  Số BN còn lại tiếp tục được kích thích từ  trong 10 ngày với Tần số 15 HZ-15 phút. Nói chung đợt này BN ít có biến động nhiều, ảo thanh có cường độ giảm dần, BN ăn tốt, ngủ tốt, hành vi của BN ổn định tốt. Kết thúc đợt 2, có 1 BN còn ở  mức 6 và 2 BN hết ảo thanh ( chiếm 11,76 % ).

    Đợt 3: Các mức độ ảo thanh tiếp tục thuyên giảm, kết thúc điều trị thì không còn BN nào ở mức 6 và 5 BN đã hết ảo thanh (chiếm 33,33 % ).  Các mức độ 5 và 4 đều giảm xuống mức thấp hơn ( Biểu đồ 5 ).

    Kết quả, sau đợt điều trị , 21 BN thì có 11 BN đã hết ảo thanh, chiếm 52,38% . Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số tác giả, 50% BN thuyên giảm khi điều trị 10 buổi trong thời gian 15 tuần và 25% thuyên giảm trong 1 năm [5],[11],[15].

Các biểu hiện của ảo thanh trước và sau kích thích từ

    Các biểu hiện tiếng nói trong đầu xui khiến BN, tiếng người trong đầu đe dọa BN có sự thuyên giảm nhiều nhất. Biểu hiện bên ngoài ở các BN này rất rõ rệt, trước điều trị kích thích từ thì các BN này đều có biểu hiện căng thẳng, hoảng sợ, chạy trốn, nhiều BN sợ toát mồ hôi...sau KTT các biểu hiện này đã hết, BN thấy dễ chịu hơn, thoải mái hơn và đã hợp tác tốt với thầy thuốc.

      Các biểu hiện sau đây hầu như không thuyên giảm sau điều trị KTT, trước điều

trị các ảo thanh này cũng không dồn dập căng thẳng như  các loại trênm nhưng đáp ứng kém với kích thích từ, đó là các ảo thanh: Tiếng nói trong đầu bình luận về BN, Tiếng nói trong đầu khen, chê BN, Tiếng chim, tiếng ve kêu, tiếng giun dế, Tiếng 0 0, tiếng inh bên tai.

      Qua kết quả này sơ bộ cho thấy, các loại ảo thanh có tính chất cấp tính, ồn ào đáp ứng tốt với kích thích từ . Các ảo thanh của hội chứng tâm thần tự động đáp ứng kém với kích thích từ.

Tần xuất xuất hiện xuát hiện của ảo thanh trước và  sau kích thích từ

    Ảo thanh liên tục suốt ngày hầu như không lúc nào dừng chiếm tỷ lệ cao nhất

( 42,85%). Tiếp đến là loại ảo thanh nhiều lần trong ngày (38,09% ), loại này thường gặp là ảo thanh xuất hiện nhiều lần bất cứ lúc nào trong ngày. Các BN loại ảo thanh này chỉ dừng khi nào BN ngủ được, BN có ảo thanh loại này luôn trong tình trạng căng thẳng hoảng sợ, rất khó chịu, một phần do tiếng nói liên tục suốt ngày khiến đầu óc BN rất căng thẳng, mặt khác ảo thanh thường xui khiến hoặc đe dọa BN, bắt BN làm các hành vi nguy hiểm như xui BN móc mắt BN khác, hoặc xui tự tử, xui đánh người, xui chạy trốn....

      Sau điều trị kết hợp với kích thích từ thì các loại ảo thanh này đều thuyên giảm rõ rệt và ảo thanh xuất hiện ít hơn. Loại liên tục cả ngày có 9 BN, sau điều trị chỉ còn lại 1 BN. Loại nhiều lần trong ngày trước điều trị có 8 BN, sau điều trị còn 4 BN, giảm ít hơn loại trên là do số BN có ảo thanh liên tục cả ngày đã giảm xuống còn nhiều lần trong ngày, do vậy đã làm tăng số BN này lên..

       Kết quả, sau đợt điều trị , 21 BN thì có 11 BN đã hết ảo thanh, chiếm 52,38%     ( Biểu đồ 6 ).

Mức độ chi phối hành vi của  ảo thanh trước và sau kích thích từ

   Biểu đồ 7 cho thấy tính chất chi phối của ảo thanh thuyên giảm rõ rệt sau kích thích từ. Trong đó, nhóm BN có ảo thanh chi phối rõ rệt tư  duy, hành vi trước điều

trị là 42,85 %, sau điều trị không còn BN nào thuộc nhóm này, như  vậy nhóm này

đáp ứng tốt với điều trị kích thích từ.

   Nhóm không chi phối tư duy, hành vi ( ảo thanh bình phẩm, đàm thoại) hầu như không đáp ứng với điều trị kích thích từ.

4.3.3    Liên quan giữa mức độ thuyên giảm của ảo thanh với kích thích từ

Liên quan giữa thời gian mắc ảo thanh với KTT

   Biểu đồ 8 cho thấy, thời gian mắc ảo thanh càng ngắn thì hiệu quả điều trị bằng kích thích từ càng cao, hầu hết số BN mắc bệnh < 6 tháng đến < 2 năm đã hết ảo thanh sau 3 đợt điều trị thuốc kết hợp với kích thích từ  xuyên sọ ( 80% số BN từ 6 tháng đến < 2 năm ).

    Thời gian mắc bệnh từ 2 năm đến < 5 năm chỉ có 40% hết ảo thanh , tỷ lệ này thấp hơn so với số BN có ảo thanh < 2 năm. Trong nghiên cứu, nhóm BN này có số lượng đông nhất ( 10 BN ), điều này cho thấy việc điều trị ảo thanh kéo dài rất khó khăn, các BN này đã điều trị nhiều nơi nhưng không hết ảo thanh.

    Thời gian mắc bệnh từ 5 năm đến 10 năm thuyên giảm chậm , chỉ có 40% BN hết ảo thanh. Như  vậy, thời gian mắc ảo thanh càng ngắn thì hiệu quả điều trị càng cao

Liên quan giữa mức độ nặng của ảo thanh với kích thích từ

    Mức độ 6 thuyên giảm nhiều nhất, sau 3 đợt kích thích từ không còn BN nào còn ảo thanh liên tục suốt ngày mà ảo thanh chuyển xuống các mức độ thấp hơn.

     Mức độ 5 cũng thuyên giảm mạnh, trong đó lại có một số BN ở mức 6 chuyển sang. Nói chung mức 5 và 6 đa số gặp ở các BN có thời gian mắc bệnh < 6 tháng đên < 5 năm do vậy đáp ứng với điều trị bằng kích thích từ  tốt hơn so với số BN có thời gian mắc bệnh > 5 năm.

    Bệnh nhân mắc bệnh càng lâu năm thì mức độ ảo thanh không nặng như số BN cấp tính, BN mới mắc bệnh. Bệnh nhân cấp tính, thời gian mắc bệnh càng ngắn thì tính chất của ảo thanh càng mạnh, mức độ ảo thanh càng nặng và cũng đáp ứng tốt hơn với điều trị kích thích từ.

4.4       Đánh giá độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị

ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

 Đánh giá về các tác dụng không mong muốn

Tác dụng không mong muốn về tim mạch : Không BN nào có các tác dụng không mong muốn về tim mạch. Các chỉ số tim, mạch, huyết áp, điện tim đều bình thường trước và sau kích thích từ , một số BN có mạch nhanh khi KTT lần đầu nhưng ngay sau buổi đó mạch lại bình thường.

     Toàn bộ 21 BN đều thấy rất dễ chịu ngay lần KTT đầu tiên, các lần tiếp sau cũng đều thấy rất dễ chịu và thoải mái, cảm thấy nhẹ nhõm hẳn đầu óc, bớt nghĩ lung tung, đêm ngủ ngon giấc hơn. Không thấy BN nào có biểu hiện khó chịu như đau vùng trước tim, mạch và huyết áp vẫn bình thường sau mỗi buổi KTT

Tác dụng không mong muốn về thần kinh

    Chỉ có 1 BN có các tác dụng không mong muốn về thần kinh với biểu hiện buồn nôn trong lần kích thích đầu tiên sau đó lại bình thường. Tất cả các BN khác không có gì đặc biệt, không có biến đổi điện não trước và sau kích thích từ.

Tác dụng không mong muốn khác :    Không BN nào có tác dụng không mong muốn khác, tất cả BN đều ăn ngủ, sinh hoạt bình thường, vui vẻ hơn, dễ chịu hơn.

KẾT LUẬN

  1. 1.     Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

- Số BN nữ  có ảo thanh kéo dài chiếm tỷ lệ 71,43%,  nam chiếm 28,57%.

 - 26-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (38,09 % ), thấp nhất là  46-50 (14,29%). 

  1. 2.     Đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo

thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

2.1 Đánh giá về tần số và thời gian kích thích từ

Thời gian kích thích từ 15 phút và tần số 15Hez( 10 ngày )

-  Ngay sau lần kích thích từ đầu tiên, tất cả BN đều thấy dễ chịu và thoải mái hơn.

- Ảo thanh mức 6 thuyên giảm từ  42,85% xuống còn 9,53 %. Bệnh nhân các mức độ khác cũng có sự  thuyên giảm mạnh

- Có 4 BN hết ảo thanh  .

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 25 Hez( 10 ngày )

- Cường độ ảo thanh ở  các bệnh nhân này đều giảm so với khi kích thích từ  đợt 1.

 - Aỏ thanh ở các mức độ tiếp tục giảm hơn

 - Có 2 bệnh nhân hết ảo thanh

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 30 Hez (10 ngày )

- Cường độ ảo thanh ở số BN còn lại cũng giảm hơn nhiều so với đợt 2

- Còn 4 BN vẫn còn ảo thanh xuất hiện nhiều lần trong ngày nhưng cường độ giảm hơn so với trước khi điều trị kích thích từ.

- Kết  thúc quá trình nghiên cứu, có thêm 5 BN nữa hết ảo thanh.. Tổng số 11 bệnh nhân hết ảo thanh ( chiếm 52,38 %).

2.2           Tần xuất xuất hiện xuát hiện của ảo thanh trước và  sau kích thích từ

Ảo thanh liên tục suốt ngày chiếm tỷ lệ cao nhất ( 42,85%) thuyên giảm rõ rệt

- Tiếp đến là loại ảo thanh nhiều lần trong ngày (38,09% ) giảm nhiều

2.3 Các biểu hiện của ảo thanh trước và sau kích thích từ

- Các biểu hiện tiếng nói trong đầu xui khiến BN, tiếng người trong đầu đe dọa bệnh

nhân có sự thuyên giảm nhiều nhất.

2.4 Mức độ chi phối hành vi của  ảo thanh trước và sau kích thích từ

 - Ảo thanh chi phối rõ rệt tư  duy, hành vi ( Mức 6) trước điều trị là 42,85 %, sau điều trị không còn BN nào thuộc nhóm này, như  vậy nhóm này đáp ứng tốt với điều trị kích thích từ.

 - Nhóm ảo thanh bình phẩm, đàm thoại ít đáp ứng với điều trị kích thích từ.

2.5 Thời gian mắc ảo thanh

- Thời gian mắc ảo thanh càng ngắn thì hiệu quả điều trị bằng kích thích từ càng cao, < 6 tháng đến < 2 năm  có tới 80-100% đã hết ảo thanh sau 3 đợt điều trị

- Thời gian mắc bệnh từ  2 năm đến < 5 năm chỉ có 40% hết ảo thanh.

3. Đánh giá độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị

ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

Tác dụng không mong muốn về tim mạch : Không BN nào có các tác dụng không mong muốn về tim mạch. Các chỉ số tim, mạch, huyết áp, điện tim đều bình thường

Tác dụng không mong muốn về thần kinh : Chỉ có 1 BN có các tác dụng không mong muốn về thần kinh với biểu hiện buồn nôn trong lần kích thích đầu tiên sau đó lại bình thường. Tất cả các BN khác không có gì đặc biệt, không có biến đổi điện não trước và sau kích thích từ.

Tác dụng không mong muốn khác : Không BN nào có tác dụng không mong muốn khác, tất cả BN đều ăn ngủ, sinh hoạt bình thường, vui vẻ hơn, dễ chịu hơn.

KIẾN NGHỊ

  Ảo thanh kéo dài gặp trong nhiều bệnh tâm thần như: tâm thần phân liệt, trầm cảm, rối loạn phân liệt cảm xúc…, ảo thanh kéo dài gây rất nhiều khó khăn cho điều trị, gây cản trở nhiều đến cuộc sống hàng ngày của người bệnh và người bệnh dễ có hành vi nguy hiểm do ảo thanh xui khiến. Do vậy nên áp dụng rộng rãi điều trị kích thích từ xuyên sọ đối với các bệnh nhân ảo thanh kéo dài với các lý do:

      + Điều trị ảo thanh kéo dài khá hiệu quả mà dùng thuốc không hết ảo thanh

      + An toàn, người bệnh hoàn toàn tỉnh táo, dễ chịu khi kích thích từ

   Qua điều trị bước đầu 21 bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy có thể áp dụng điều trị cho BN tần số từ 15 Hez đến 30 hez, thời gian từ 15 phút đến 30 phút. Không thấy có tác dụng không mong muốn do kích thích từ gây ra. Để đạt hiệu quả cao nhất, chúng tôi đề xuất một số kỹ thuật sau:

  1. Máy phải đảm bảo kích thích được với thời gian 30 phút và tần số 30 Hez
  2. Kỹ thuật viên phải thục hiện đúng chỉ định, phải đặt cuộn dây kích thích sát da đầu bệnh nhân.
  3. Vị trí kích thích: Thái dương -  Đỉnh phải.
  4. Thời gian điều trị: 30 lần , mỗi ngày tính là 1 lần
  5. Duy trì:  Mỗi tuần 1 lần trong thời gian 3-6 tháng với tần số và thời gian lúc

hết ảo thanh. Vẫn duy trì thuốc uống với liều lượng lúc điều trị tấn công tại viện.

  1. Áp dụng tần số và thời gian kích thích từ  như  sau:
  2. Tần số 15 hez, thời gian 15 phút: Ngày thứ 1 và 2
  3. Tần số 25 Hez, thời gian 25 phút: Ngày thứ 3 và 4
  4. Từ ngày thứ 5 đến ngày30 : Tần số 30 Hez, thời gian 30 phút

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những vết trượt đầu đời

Những vết trượt đầu đời

Vẫn hoàn cảnh éo le, vẫn dòng đời xô đẩy, vẫn ham vui theo bạn bè… vẫn là những lý do quá cũ để biện minh cho vết trượt dài của các cô gái 9X.

Các học viên nữ xếp hàng chuẩn bị đi ăn trưa. Ảnh: Xuân Phú
Các học viên nữ xếp hàng chuẩn bị đi ăn trưa. Ảnh: Xuân Phú.


Đến Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số 2 Hà Nội (xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội) vào một ngày mưa nên các học viên (người cai nghiện) của trung tâm được nghỉ, do đó tôi được tiếp xúc với họ nhiều hơn.

Được sự giúp đỡ của các cán bộ trung tâm, tôi đến một phòng học nhỏ, nơi có mấy cô gái trẻ đang ngồi học nghề tin học. Nếu không nhìn vào bộ quần áo học viên và được giới thiệu trước, không ai nghĩ những cô bé đang tuổi đến trường này đang để tuổi xuân của mình ở một trung tâm cai nghiện.

Nhìn thấy chúng tôi, cả nhóm đồng thanh: "Em chào thầy, em chào cô!". Tôi nao lòng khi nghĩ rằng, đáng lẽ những câu chào quen thuộc của các em phải được vang lên trong lớp học,
sân trường.

Từ ham chơi…

"Không nghe người nghiện trình bày!" - đó là câu cảnh giới nhiều người trong thời buổi "ra đường gặp nghiện". Nhưng với các cô gái đang độ tuổi đến trường và mới chỉ mới bập vào chơi đá thì cảnh giới đó có lẽ không cần.

Nguyễn Thị Lê (SN 1997, Đội 2, tầng 1, phòng 103, Trung tâm Chữa bệnh và Lao động Xã hội số 2), có lẽ là học viên trẻ nhất của trung tâm, cười tươi khi tôi hỏi chuyện. Dáng người tròn tròn, phổng phao của con gái mới lớn, tóc nhuộm chút vàng, mắt trong veo và đặc biệt là cái miệng nhoẻn cười lộ rõ vẻ hồn nhiên của một cô bé vô lo, vô nghĩ.

Nguyễn Thị Lê bấm tay tính ngày về
Nguyễn Thị Lê bấm tay tính ngày về.


Khác hẳn với các học viên khác, Lê vô tư trả lời thẳng vào câu hỏi của tôi mà không vòng vo, ngại ngùng. "Em chơi gì? Vào đây lâu chưa?", "Đá (ma túy đá), được 9 tháng rồi anh ạ!", câu nói tỉnh bơ, hồn nhiên như nó phải vậy.

  Tất cả các học viên nghiện đá đều có hội chứng hoang tưởng, nên khi vừa vào trung tâm sẽ tìm cách hủy hoại bản thân, hoặc tự tử" 

Anh Phạm Đình Giang
Phó Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số 2

 

Sinh ra và lớn lên ở vùng quê Mỹ Hào (Hưng Yên), là con gái thứ 2 trong một gia đình nghèo khó, bố mẹ Lê chỉ có mỗi lò bánh mỳ nhỏ để nuôi 3 đứa con nhỏ. Tuy không xinh nhưng lại rất duyên, nên Lê có nhiều bạn, nhiều mối quan tâm hơn là chuyện học hành và chỉ đến lớp 10, Lê bỏ học ở nhà cùng bạn bè bù khú. Theo lời Lê kể, sau khi nghỉ học, cô ra Bãi Cháy (Quảng Ninh) làm việc trong cảng Cái Lân 6 tháng thì bỏ về Hà Nội chơi. Trong một lần tình cờ bị công an phường tạm giữ vì không có giấy tờ tùy thân, cô bị phát hiện vừa sử dụng đá và sau đó được chuyển thẳng vào Trung tâm cai nghiện. Khi được hỏi: "Cảng Cái Lân nhận người dưới 18 tuổi vào làm à?", một thoáng bối rối, Lê cúi mặt: "Em làm giả hồ sơ".

Kể về lần đầu chơi đá, trong một buổi sinh nhật của mấy anh bạn mới quen, thấy mọi người phê đá nhảy múa tưng bừng nên Lê cũng thử. Tan cuộc chơi, về phòng trọ, Lê cảm thấy nôn nao, đầu nặng trĩu, tay chân mỏi nhừ, không muốn ăn gì, chỉ thèm uống nước ngọt. Nhưng hai ngày sau Lê lại thèm cảm giác lâng lâng của đá.

Đang thao thao kể về những chiến tích, những chuyến bay đêm, những lần ngáo đá, Lê đột nhiên khựng lại khi được hỏi về bạn trai. Theo Lê đó là mối tình đầu rất đẹp, trong trẻo mà cô đã đánh mất.

Ngày Lê rời quê, bạn trai Lê chỉ biết cô đi làm xa chứ không biết cô tham gia vào những cuộc ăn chơi sa đọa. Từ ngày Lê bị đưa vào cai nghiện, một vài lần bạn trai lên thăm nhưng Lê tránh mặt. "Hết 3 năm ở cai nghiện, em về quê giúp bố mẹ làm bánh mỳ thôi, nhưng chắc ngày đó bạn trại em lấy vợ rồi"- mắt nhìn xa xa, giọng Lê chùng hẳn xuống.

Kể xong chuyện mình, Lê trở về ngồi cạnh cô bạn gái xinh xắn, thì thầm to nhỏ chuyện gì rồi cả hai tủm tỉm cười. Hai nụ cười của hai gương mặt còn vương nét thơ ngây, mà có lẽ hai cô bé không biết rằng con đường phía trước còn lắm thử thách, chông gai.

… Đến chán chường

Khác với Lê, cô bé Phan Thị Hoa, 18 tuổi (Thọ Xương, Thọ Xuân, Thanh Hóa) lao vào chơi ma túy đá chỉ vì quá chán chường với người bố suốt ngày say rượu, nhiếc mắng, đánh đập vợ con.

Phan Thị Hoa khóc khi nhớ về quãng thời gian khổ đau bị đánh, chửi
Phan Thị Hoa khóc khi nhớ về quãng thời gian khổ đau bị đánh, chửi.


Giữa hành lang vắng lặng của Trung tâm 2, Hoa khóc như mưa khi nhớ lại quãng thời gian dại dột vừa qua của mình. Cô khóc vì ân hận về những ngày tháng theo bạn bè ăn chơi và nhất là thấy có lỗi với người mẹ lam lũ yêu thương cô hết mực.

Sống trong một gia đình nghèo có 4 anh chị em ở vùng quê Thọ Xương (Thanh Hóa). Bố mẹ Hoa đều ở nhà làm nông nên cuộc sống khá chật vật, là con gái thứ 3 trong nhà, ngoài giờ đi học, Hoa luôn ý thức phụ giúp bố mẹ làm ruộng, đỡ đần việc nhà.

Thế nhưng, bố của Hoa hằng ngày chỉ biết uống rượu và mỗi khi rượu vào là ông lại vô cớ chửi bới, đánh đập chị em Hoa. Thậm chí, mỗi lúc mẹ Hoa vào can ngăn, ông cũng đánh mẹ Hoa đến bầm tím mặt mày.

Hoa kể trong nước mắt những ký ức tuổi thơ này: "Trước đây, sức học của em chỉ trung bình khá. Nhưng năm nào em cũng cố gắng phấn đấu được học sinh tiên tiến. Thế mà bố em chưa bao giờ hài lòng về điều này. Bố cứ đánh đập em và bảo con nhà khác học giỏi, giấy khen treo đỏ nhà. Còn nhà này đi học thì toàn tiên tiến.

Và để bố vui lòng, em học ngày, học đêm. Năm lớp 8, đến giữa học kỳ, em được cô chủ nhiệm chọn vào đội tuyển Văn của lớp. Nhưng ngày em đi học ôn, bố không cho em đi. Em khóc đòi đi thì bố lại bảo, giấy khen để làm gì, nó không quy ra tiền thì đói vẫn hoàn đói thôi.

Chưa học hết lớp 8, không chịu nổi những trận đòn roi, những lần mắng mỏ vô cớ của bố, Hoa đã bỏ học, trốn nhà theo bạn lên Hà Nội kiếm sống.

Không kiến thức, không nghề nghiệp, Hoa xin giúp việc cho các quán cơm, quầy quần áo để tồn tại qua ngày.

Những ngày tối tăm và chán chường ấy, bị bạn rủ rê, Hoa bắt đầu chơi đá từ tháng 11/2012. 5 tháng sau (ngày 15/4/2013), Hoa bị bắt tại một khách sạn ở Hải Dương khi đang phê đá cùng một cậu bạn.

Hoa vừa khóc vừa nói: "Em ân hận lắm. Ngồi trong này 2 tháng rồi mà ngày nào em cũng nhớ tới mẹ. Lần trước, được phép gọi cho mẹ trong 2 phút ở trại, cả 2 mẹ con chỉ khóc". "Mẹ ơi, hãy tha lỗi cho con. Con xin lỗi mẹ!".

… và hậu quả khôn lường!

Ma túy đá là tên gọi chỉ chung cho các loại ma túy tổng hợp, có chứa chất methamphetamine (meth) và amphethamine (amph), thậm chí là niketamid. Nó được bán bất hợp pháp trên thị trường dưới các dạng tinh thể đá.

Là người trực tiếp phụ trách các học viên trong quá trình cai nghiện, anh Phạm Đình Giang - Phó Giám đốc Trung tâm Chữa bệnh Giáo dục Lao động Xã hội số 2 cho biết: Nhiều bạn trẻ có quan niệm sai lầm rằng "đập đá" chỉ giúp cơ thể hưng phấn, hoan lạc tức thời chứ không gây nghiện giống như heroin, thuốc lắc... Nhưng khi đã nghiện thì ma túy đá tàn phá khủng khiếp hơn bất cứ loại ma túy nào. Đấy là chưa kể đến những hậu quả tức thời như: giết người, chạy xe gây tai nạn, quan hệ tình dục tập thể dẫn đến bệnh xã hội… do chứng hoang tưởng gây ra. Ngoài ra, nếu sử dụng quá nhiều, ma túy đá cũng gây sốc dẫn đến tử vong như các loại ma túy khác.

Xin được sô điện thoại của gia đình Lê, tôi gọi điện gặp mẹ Lê, bà cám cảnh: Vì công việc hằng ngày tốn rất nhiều thời gian, thu nhập lại không được bao nhiêu nên gia đình không có điều kiện lên thăm Lê nhiều. Còn khi gọi điện về gia đình Hoa, gặp người đàn ông cầm máy và dập mạnh sau đó khi nghe tôi trình bày. Gợn trong tôi câu hỏi, những vết trượt dài của các em lỗi từ phía gia đình có bao nhiêu trong đó?

* (Tên nhân vật đã được thay đổi)

Bác sĩ, Tiến sĩ cao cấp Tô Thanh Phương - Trưởng Khoa 6 (Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1) cho biết: Ngay khi sử dụng đá, meth sẽ tác động trực tiếp gây kích thích hệ thần kinh trung ương và có thể tạo ảo giác trong một thời gian dài. Từ đó, người nghiện sẽ thực hiện những việc làm khác thường, không thể kiểm soát được hành vi như: tự rạch tay, gào thét, đánh nhau, thậm chí quan hệ tình dục tập thể... Ngoài việc gây ra cho người sử dụng chứng hoang tưởng ảo giác, rối loạn hành vi, ma túy còn kích thích hệ thần kinh, gây mất ngủ khiến các cơ quan sinh học nội tạng nhanh chóng bị suy yếu, kiệt quệ.

 



Xuân Phú



 
 

Các bài khác...

Page 6 of 9

Giới Thiệu

Tiến Sĩ - Bác Sĩ Tô Thanh Phương

- Tiến sĩ bác sĩ cao cấp

- Đào tạo 2 lần ở pháp

- Trưởng khoa 6 , Bệnh Viện Tâm Thần TWƯ1

- Phó Giám Đốc

Cảm Nhận Bệnh Nhân

“Giờ chỉ mong sớm được về nhà, làm ruộng rồi cưới vợ sinh con. Em hứa sẽ tiêm phòng, uống... Read more

Super User - avatar Super User

Rất hiệu quả và tôi đã trở lại bình thường , không bị mất ngủ nữa Read more

Super User - avatar Super User

Rất hiệu quả Read more

Super User - avatar Super User

  • 1
  • 2
  • 3