• Mat ngu.jpg
  • Mat ngu 2.jpg
  • Matngu 3.jpg

Người tạo ra bước đột phá cho ngành tâm thần

 

Chân dung Trí thức

Ngày đăng: 9/12/2014 10:34

Người tạo ra bước đột phá cho ngành tâm thần

Qua sự giới thiệu, chúng tôi có dịp gặp gỡ Tiến sỹ, Thầy thuốc ưu tú Tô Thanh Phương - Phó Giám đốc kiêm Trưởng khoa cấp tính nữ Bệnh viện Tâm thần Trung ương I tại căn phòng làm việc của ông. Sự gần gũi, thân thiện của người con mảnh đất Thanh Oai - Hà Nội mang lại cho chúng tôi cảm giác rất đỗi thân quen. Vẻ hài hước vui tính cộng với sự hiếu khách khiến cho cuộc trò chuyện giữa chúng tôi với ông càng thêm phần thú vị.


A
Tiến sỹ, Thầy thuốc ưu tú Tô Thanh Phương vinh dự nhận Bảng Vàng vinh danh Trí thức Tiêu biểu vì sự nghiệp phát triển Thủ đô


Đối với ngành y tế thì chuyên ngành tâm thần vẫn là lĩnh vực ít được chú trọng và dường như mọi người vẫn có cái nhìn chưa thiện cảm đối với chuyên ngành này. Tuy nhiên, mấy ai có thể hiểu được đời sống cũng như sự vất vả của các y bác sỹ nơi đây. Nhằm góp phần thay đổi định kiến của xã hội đối với các bệnh nhân tâm thần, các y bác sỹ tại bệnh viện Tâm thần Trung ương I đã thực sự rất nỗ lực rất nhiều, trong đó phải nói đến tiến sỹ Tô Thanh Phương - người đã và đang cố gắng đấu tranh để thay đổi những cách nhìn sai lệch, và đã và đang làm nên các kỳ tích.

Tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1982, ngay sau đó bác sĩ trẻ Tô Thanh Phương về công tác tại Trường sỹ quan Chỉ huy kỹ thuật Tên lửa -  Ra đa. Trong 3 năm ở quân ngũ (1982-1985), bác sĩ Tô Thanh Phương đã đạt được nhiều thành tích và được phong quân hàm trước niên hạn. Đến năm 1986, ông về công tác tại Bệnh viên Tâm thần Trung ương I với nhiệm vụ là Bác sỹ điều trị, Bác sỹ Phó khoa Việt Xô. Ông trải lòng: “Giai đoạn này đối với tôi cũng như các bác sỹ tâm thần khác hết sức khó khăn. Trong thời buổi khó khăn chung, hơn nữa cơ sở vật chất lại rất  nghèo nàn, đặc biệt là tính chất của bệnh nhân tâm thần hết sức nguy hiểm, nhiều Bác sỹ đã không dám công tác tại bệnh viện Tâm thần. Mặc dù tôi có thể lựa chọn một Bệnh viện nào đó có điều kiện tốt hơn để công tác, nhưng tôi vẫn cố gắng theo đuổi lĩnh vực mà mình đam mê và trăn trở…” - Tiến sỹ Tô Thanh Phương tâm sự như vậy


Từ năm 1994-1995, ông là Trưởng khoa Bán cấp tính nữ. Công việc của một Bác sỹ tâm thần không hề đơn giản chút nào. Trò chuyện với tiến sỹ Tô Thanh Phương chúng tôi càng cảm nhận rõ hơn nỗi vất vả, có cả sự hy sinh của các y bác sỹ nơi đây. Tuy nhiên, với tình yêu nghề, lòng nhân ái, sự trăn trở về những căn bệnh đã tạo thêm động lực cho ông tiếp tục phấn đấu. Ông đã 2 lần làm Thực tập sinh ở Pháp. Tại đó, ông không ngừng học hỏi kinh nghiệm của nước bạn để về giúp ích cho công việc chữa bệnh ở trong nước. Khi về nước , Tiến sỹ Tô Thanh Phương đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau. Đến năm 2012 ông là Tiến sỹ, bác sỹ cao cấp - Trưởng khoa Bán tính nam; Tháng 3 năm 2012 ông giữ chức vụ Trưởng khoa cấp tính nữ - khoa nhận các bệnh nữ cấp tính, bệnh nhân nặng, bệnh nhân nữ có liên quan đến pháp luật. Hiện nay, Tiến sỹ Phương là Phó giám đốc kiêm trưởng khoa cấp tính nữ Bệnh viện Tâm thần Trung ương I. Quá trình phấn đấu của ông rất đáng được ghi nhận, y đức của một người thầy thuốc “lương y như từ mẫu” được thể hiện rất rõ ở mỗi hành động của ông dành cho bệnh nhân.

Trầm cảm là vấn đề ông lựa chọn để nghiên cứu. Trong ngành Y tế nói chung và chuyên ngành Tâm thần nói riêng, không mấy ai là không biết tới cái tên Tô Thanh Phương. Ông là Tiến sỹ đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực điều trị trầm cảm. Luận án Tiến sỹ: “ Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần” của ông được coi là một phát hiện lớn đối với ngành Tâm thần, đặc biệt là lĩnh vực trầm cảm, vì thực tế chưa có một tài liệu nào trên thế giới đề cập đến phương pháp chữa bệnh như vậy. Để đạt được thành công này, ông đã phải mất rất nhiều thời gian, công sức để tìm tòi, nghiên cứu và hơn nữa là mạnh dạn có những thay đổi mang tính đột phá trong cách chữa trị, đó là “dùng thuốc an thần kinh kết hợp với thuốc chống trầm cảm” và điều đó đã đem lại kết quả tốt. Ông chia sẻ: “Chưa có một tài liệu nào nói về điều này, nhưng tôi vẫn quyết tâm thực hiện phương pháp đó và kết quả là việc điều trị Trầm cảm khả quan hơn nhiều khi sử dụng thuốc an thần kinh kết hợp với thuốc chống trầm cảm để điều trị cho những bệnh nhân trầm cảm nặng”. Hiện nay, phương pháp chữa bệnh như vậy của ông được áp dụng rất phổ biến, nhiều loại thuốc an thần kinh thế hệ mới đã được dùng phối hợp với thuốc trầm cảm, thu được những kết quả vượt bậc.

Bên cạnh đó, Tiến sỹ Tô Thanh Phương còn thực hiện nhiều đề tài khác có ý nghĩa và giá trị thực tiễn cao. Trong đó, Đề tài “Bước đầu đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid”  được áp dụng công nghệ mới kích thích từ xuyên sọ trong điều trị ảo thanh kéo dài lần đầu tiên được nghiên cứu ở Việt Nam. Một bước đột phá mới trong việc chữa bệnh nhân ở mức độ nặng. Ảo thanh kéo dài là một căn bệnh hết sức nguy hiểm không chỉ đối với người bệnh mà cả những người xung quanh. Với cái “tâm” của một người thầy thuốc, ông luôn trăn trở, tìm tòi để mong sao giúp người bệnh sớm khỏi bệnh. Kĩ thuật mới lần đầu tiên được áp dụng ở Việt Nam đã cho thấy một kết quả đáng khích lệ: 52% bệnh nhân đã hết hoàn toàn ảo thanh, vì vậy phương pháp này dần được nhân rộng ra các địa phương. Thành công của phương pháp điều trị mới bước đầu đã góp phần giải quyết được bế tắc của các thầy thuốc tâm thần khi gặp phải loại bệnh nguy hiểm và nan y này.

Với những đóng góp bằng tâm sức và trí tuệ của mình cho việc chữa trị các căn bệnh tâm thần, Tiến sỹ Tô Thanh Phương đã được trao nhiều phần thưởng và giải thưởng. Đặc biệt, ông vinh dự là một trong 42 Trí thức được nhận Bảng vàng vinh danh “Trí thức tiêu biểu vì sự nghiệp phát triển Thủ đô” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám ngày 7 tháng 10 năm 2014 vừa qua. Ông chia sẻ: Để góp phần nâng cao kết quả chữa trị bệnh tâm thần, giúp người bệnh và gia đình bệnh nhân thóat khỏi những nỗi đau do căn bệnh để lại, ông sẽ tiếp tục cố gắng hết sức mình để thực hiện điều trị một cách tốt nhất bệnh lý ảo thanh. Bên cạnh đó, mong muốn xã hội sẽ không còn cái nhìn kỳ thị, xa lánh đối với các y bác sỹ làm việc trong lĩnh vực chữa bệnh tâm thần và những bệnh nhân nơi đây. Với tâm huyết của người thầy thuốc, hy vọng rằng những mong muốn của Tiến sỹ, Thầy thuốc ưu tú Tô Thanh Phương sẽ trở thành hiện thực và ông tiếp tục là tấm gương sáng cho các thế hệ đi sau noi theo.
 

Trang Lý

 

 

 

 

 

Loạn thần sau đẻ

 

 

Bộ y tế

Bệnh viện tâm thần trung ương 1

-------------------------

 

 

nhận xét đặc điểm lâm sàng

các rối loạn tâm thần và hành vi

kết hợp với thời kỳ sinh đẻ

 

đề tài khoa học cấp cơ sở

 

 

 

                                                  Chủ nhiệm đề tài:TS Tô Thanh Phương

                                                    

 

 

 

Hà nội 2010

 

Đặt vấn đề

       Rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ là loại bệnh ít gặp. Theo Lempérière, dạng rối loạn này chiếm 0,15% số người đẻ và chỉ gặp trong thực hành tâm thần và trong các bệnh viện phụ sản. Tuy nhiên người bệnh thường có hành vi nguy hiểm, hung bạo và bệnh thường mang tính chất cấp tính.

       Bệnh thường để lại hậu quả rất nặng nề cho bản thân người bệnh cũng như tính mạng của đứa trẻ, họ thường ghét con, không thể chăm sóc được con, con khóc cũng không cho bú mà ngược lại còn thờ ơ, dửng dưng với con, có người còn ghét luôn cả trẻ con hàng xóm, họ muốn cấu véo, hành hạ khi nào thấy trẻ khóc thì mình mới thấy dễ chịu, đặc biệt là họ có thể giết con của mình vì họ thường phủ định đứa con do mình sinh ra, họ cũng có thể tự sát hoặc tấn công những người xung quanh. Trong trạng thái căng thẳng, nhiều bệnh nhân (BN) đã gây ra những vụ giết con thương tâm do hoang tưởng (HT) hoặc ảo giác (AG) chi phối. Bệnh sẽ phức tạp hơn nếu có trầm cảm và lo âu kèm theo. Các tác giả A.Gérard; F.Raffaitin; H.Cuche ( 1995)[9], rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ là do các biến đổi hormon Steroide, đặc biệt là Estrogen.

    Trong thời kỳ có thai ít khi có trầm cảm, trầm cảm thường xuất hiện trước và sau đẻ gồm 3 loại sau:

-         Sau đẻ 3-4 ngày có thể thấy bệnh nhân chán nản, mệt mỏi, suy nhược, dễ bị kích thíchb, luôn phàn nàn về các triệu chứng cơ thể, rối loạn giấc ngủ, luôn có ám ảnh cho là mình không biết nuôi con và thường có tâm trạng buồn chán, lo âu, bi quan, có những lúc khóc lóc buồn phiền. Khi bệnh nặng, có thể đột ngột xuất hiện xung động tấn công trong cơn hoảng sợ nên rất nguy hiểm đối với con, thường gặp ở người mẹ trẻ. Bệnh có thể kéo dài (khoảng10 %).

-         Trầm cảm điển hình có thể xuất hiện 3 tuần sau đẻ và có thể dẫn đến những rối loạn quan trọng mối quan hệ mẹ -con. Sau một năm, các triệu chứng vẫn còn tồn tại dai dẳng ở 1/3 số bệnh nhân này nếu không được điều trị đúng cách.

-         Các rối loạn tâm thần có thể xuất hiện muộn 3 tháng sau đẻ, một số tác giả gọi là “ Loạn thần sữa”.    Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ có ý nghĩa thiết thực trong thưc hành lâm sàng tâm thần học, qua đó có thể giúp các thầy thuốc điều trị phù hợp nhằm ngăn chặn các hành vi nguy hiểm của người bệnh. Do vậy chúng tôi tiến hành đề tài:

 “ Nhận xét đặc điểm lâm sàng các rối loạn

tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ “

Nhằm mục đích:

  1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ.
  2. Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 1

Tổng quan tài liệu

1.1   Một số vấn đề chung về rối loạn tâm thần và hành vi liên quan với thời kỳ sinh đẻ.

Dịch tễ: Loạn thần sau đẻ được nhiều người thống nhất là do các loạn thần mất bù xảy ra sau khi đẻt, tỷ lệ loạn thần sau đẻ giảm ở các nước công nghiệp phát triển do có sự cải thiện các điều kiện vệ sinh nên đã tránh được tình trạng lú lẫn hoang tưởng liên quan đến nhiễm trùng, nhiễm độc khi đẻ. Loạn thần sau đẻ chiếm tỷ lệ 0,1-0,2% số phụ nữ có thai và đỉnh cao là 2-3 tuần sau đẻ. Các nghiên cứu dịch tễ mới nhất cho thấy, loạn thần sau đẻ sớm (cho đến 6 thángc), các biểu hiện loạn thần chiếm tới 70-80% số bệnh nhân rối loạn cảm xúc lưỡng cực, 20% bệnh nhân lưỡng cực sẽ tấi phát sau đẻ [12]. Theo một số tác giả, các rối loạn tâm thần và hành vi liên quan đến thời kỳ sinh đẻ gồm 2 dạng như sau:

-         Hoặc do tái phát các bệnh tâm thần trước đó (rối loạn cảm xúc lưỡng cựcr, tâm căn, tâm thần phân liệt), sinh đẻ là yếu tố thuận lợi đẻ các bệnh trước đó tái phát

-         Hoặc xuất hiện một bệnh trực tiếp có liên quan với sinh đẻ.

Hiện nay, các rối loạn tâm thần khi sinh đẻ còn nhiều tranh luận, nhưng các tác giả đều thống nhất có 3 nguyên nhân chính sau đây:

1.1.1    Nguyên nhân sinh học: Các rối loạn này do thay đổi hormon lúc có thai và sautđẻ. Hormon biến đổi mạnh (đột ngột giảm Oestrogèn và chất dưỡng thai®, giải phóng ức chế prolactine mà những chất này đều có tác động qua lại với Dopamine), có thể gây ra trầm cảm, hội chứng ngày thứ 3, loạn thần sau đẻ cấp [8].

1.1.2 Nguyên nhân tâm lý: Khi có thai, người mẹ thường có nhiều dự định, sự mong đợi và lo lắng cho đứa con của mình. Họ phàn nàn về những khó khăn khi có thai, thay đổi nhiều về hình dạng cơ thể, lo sợ bị quái thai do vậy dễ bị rối loạn cảm xúc. Nhiều biến cố thể đến trong thời kỳ có thai nên sự trợ giúp y tế là rất quan trọng đối với người mẹ.

    Chuẩn bị sinh đẻ liên quan nhiều đến cảm xúc của người mẹ, do vậy cần chuẩn bị tốt về tâm lý, đặc biệt là vai trò của người chồng, không nên nói về khó khăn và những biến cố có thể xảy ra khi sinh, tất cả các điều đó có tác dụng chống lại các Stres gây ra hoảng sợ khi sinh và tạo niềm tin để sau này họ chăm sóc con tốt hơn.

       1.1.3    Nguyên nhân xã hội:Trong suốt quá trình mang thai và sinh đẻ, mối quan hệ vợ chồng rất quan trọng, bên cạnh đó là các yếu tố như nghề nghiệp ổn định, kinh tế đầy đủ, được kiểm tra y tế thường xuyên cũng như có sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội là yếu tố bảo vệ rất tốt cho quá trình sinh đẻ. Khi các điều kiện này không được đảm bảo sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh đẻ. Một số yếu tố nguy cơ thường gặp như:

-         Đẻ con lần đầu tiên

-         Người mẹ sống cô lập

-         Mổ lấy thai

-         Bị rối loạn tâm thần trước hoặc trong thời kỳ có thai

-         Cuộc sống khó khăn

-         Hoàn cảnh xã hội bấp bênh

-         Vợ chồng bất hoà

-         Con chết hoặc bị bệnh nặng

-         Tai nạn nặng

-         Bố hoặc mẹ bệnh nhân bị chết.

1.2.                     Đặc điểm lâm sàng rối loạn tâm thần và hành vi liên quan với thời kỳ sinh đẻ.

1.2.1  Một số dạng lâm sàng liên quan đến thời kỳ sinh đẻ

1.2.1.1 Buồn sau sinh (Hội chứng ngày thứ 3 sau đẻ “ Post-Partum blues”: Theo một số tác giả, khoảng 30-70% số người trẻ có thai sau khi sinh đẻ dễ xuất hiện hội chứng này với một số biểu hiện:

-         Suy nhược, rối loạn giấc ngủ, có thể mất ngủ, dễ bị kích thích, khi ngủ dễ có ác mộng.

-         Thường phàn nàn hoặc cho là mình không có khả năng nuôi được con. Hay phàn nàn về cơ thể có những thay đổi.

-         Khí sắc thay đổi, xuất hiện những cơn khóc lóc cho là mình bị bỏ rơi.

-         Những lo âu từ lúc bắt đầu có thai luôn xuất hiện trở lại, xen kẽ là tâm trạng bi quan chán nản.

     Các biểu hiện này chưa thể được coi là trầm cảm, mà chỉ được coi là hội chứng suy nhược diễn ra trong khoảng thời gian ngắn. Những thay đổi nội tiết sau đẻ có liên quan đến Steroidc, đặc biệt là Estrogèn đã gây ra tình trạng phản ứng tâm lý - nội tiết khác nhau và là nguyên nhân gây trầm cảm. Các rối loạn này xuất hiện vào ngày thứ 3 và thứ 6 sau đẻ.

    Bệnh sinh:  Buồn sau sinh được giải thích là do biến đổi hormon sau khi đẻh, và do những thay đổi về tâm lý “ chuẩn bị làm mẹ lần đầu”, do vậy họ rất chú ý quan tâm đến đứa con sắp tới bằng tất cả trực giác và sự ân cần của mình.

    Chăm sóc: Nên tạo điều kiện để những người mẹ trẻ gặp gỡ nhau, có thể trao đổi với nhau thành nhóm để tạo nên một không khí đầm ấm thân mậtt, thiết lập mối quan hệ tốt đẹp giữa mẹ với con…

    Tiến triển: Các biểu hiện trên có thể giảm dần trong 24 giờ và tối đa là 5 ngày. Khoảng 10% tự khỏi trong khoảng thời gian 1 tuần. Nếu các triệu chứng còn kéo dài > một tuần ( 10%) hoặc cường độ ngày càng tăng khi đó sẽ được coi là trầm cảm sau đẻ. Bệnh có xu hướng phát triển thành loạn thần sau đẻ, trạng thái lú lẫn hoang tưởng [8],[9][11].

1.2.1.2         Loạn thần sau đẻ

Dịch tễ: Loạn thần sau đẻ chiếm khoảng 0,2-0,5% những phụ nữ có thai, trong đó 1t/3 có tiền sử bị rối loạn tâm thần. Các triệu chứng loạn thần xuất hiện sớm sau đẻ 2-5 ngày chiếm khoảng 40% và trong tháng đầu tiên là 80%, thường xuất hiện 3 tuần đầu sau đẻ và đỉnh cao là ngày thứ 10 với các biểu hiện từ hoang tưởng cấp, và nặng hơn là lú lẫn. Các hoang tưởng thường gặp mang tính chất cấp tính, rất nhiều ảo giác, chủ đề hoang tưởng thường tập trung vào đứa con. Rối loạn khí sắc nặng, thường biến đổi quá mức từ trạng thái này sang trạng thái khác, khi trầm cảm nặng thì người bệnh có thể tự sát hoặc giết con do mình mới sinh ra.

Các dấu hiệu lâm sàng:

-         Khởi phát đột ngột. Có thể lú lẫn và biến đổi nhanh với rối loạn định

hướng về thời gian và không gian, lo âu, rối loạn nhịp thức ngủ, kích động trong đêm.

-         Các dấu hiệu sớm thường gặp là bệnh nhân có những cơn khóc lóc

-         Lo âu thường xuyên xuất hiện và rất quan trọng, căng thẳng, hoảng sợ, sợ chết.

-         Các triệu chứng rối loạn khí sắc nổi lên hàng đầu và thường xuyên thay đổi trong ngày®, có thể là trầm cảm nặng với những hành vi nguy hiểm với con, hoặc xen kẽ là kích động hưng cảm có thể có các rối loạn về chú ý, nhận thức kém về các sự vật hiện tại, nhiều khi đứng ngồi không yên, đôi khi có biểu hiện giống giải thể nhân cách.

-         ảo giác thường gặp là ảo thanh, ảo thị. Chủ đề hoang tưởng thường liên quan về đứa con như: Phủ định sự ra đời của nó, không có tình cảm với con,

không muốn đến gần con. Bệnh nhân cho là đứa con không còn tồn tại, cho là con mình đã bị thay thế bởi đứa trẻ khác, hoặc cho là con mình đã bị thay đổi giới tính. Thường phàn nàn và khẳng định là nó sắp chết.

-         Thường có hoang tưởng về sự âu yếm, hoặc hoang tưởng bị ma ám (Bịị xâm nhập).

-         Người mẹ có thể có hành vi xung động nguy hiểm đối với con của mình (đột ngột giết con)

-         Luôn phàn nàn là muốn chết và tự sát.

       Chẩn đoán phân biệt với lú lẫn tâm thần do nhiễm khuẩn. Lú lẫn do nhồi máu não sau đẻn, bệnh nhân thường có biểu hiện động kinh hoặc các dấu hiệu thần kinh khu trú, biểu hiện lâm sàng là một giai đoạn lú lẫn – hoang tưởng cấp thường kết hợp với đau đầu cấp, đau dai dẳng, xuất hiện đột ngột     (cần kiểm tra máu đôngc, chụp CT -Scanner ).

    Loạn thần sớm sau đẻ là một loạn thần cấp do sinh đẻ, do biến đổi nội tiết và thay đổi tâm lý. Một số yếu tố có thể tác động đến loạn thần sớm sau đẻ:

-         Đẻ con đầu tiên

-         Tiền sử gia đình có người bị bệnh tâm thần.

-         Những người nhân cách chưa hoàn thiện, các trạng thái ranh giới, nhân cách bệnh.

-         Có thai khi còn ít tuổi

    Tiến triển:  Nếu được điều trị thì bệnh tiến triển tốt. Đa số khỏi bệnh sau 2-3 tuần điều trị bằng thuốc an thần kinh. Sốc điện thường rất hiệu quả. Khoảng 80% khỏi bệnh sau vài tháng điều trị, 20% tái phát trong lần có thai sau, rối loạn cảm xúc lưỡng cực có loạn thần chiếm 1%, tâm thần phân liệt rất hiếm (thường gặp ở người mẹ 20 tuổit). Loạn thần sau đẻ [7],[9].[10],[11] thường bị chi phối bởi các yếu tố:

-         Đẻ con lần thứ  nhất.

-         Đẻ con lần thứ nhất khi người mẹ > 35 tuổi

-         Có tiền sử bị bệnh hoặc có yếu tố gia đình

-         Nhân cách chưa trưởng thành

-         Các rối loạn về các mối quan hệ sớm khi có thai

-         Chưa chuẩn bị tốt về tâm lý trước khi đẻ

-         Kinh tế gặp nhiều khó khăn

1.2.1.3         Rối loạn khí sắc sau đẻ:Thường gặp sau đẻ 2 tháng (đôi khi15 ngày), biểu hiện:

-         Lú lẫn

-         Hoang tưởng (khoảng 50k%) chủ đề hoang tưởng thường liên quan đến đứa con

-         Khí sắc: Có thể xuất hiện giai đoạn trầm cảm nặng cùng với cảm giác không xứng đáng, cho là không có khả năng làm mẹ, tự buộc tội hoặc các loại hoang tưởng khác của giai đoạn lú lẫn hoang tưởng. Hiếm gặp giai đoạn hưng cảm, nếu có thì thường xuất hiện sớm. Thường gặp là trạng thái hỗn hợp đan xen của các yếu tố hưng cảm và trầm cảm. Vậy các giai đoạn này có liên quan gì với rối loạn lưỡng cực không?

+ Một số người trong tiền sử đã có những giai đoạn rối loạn khí sắc của rối loạn lưỡng cựcr, khi có thai, đó là một yếu tố làm xuất hiện một giai đoạn mới của rối loạn lưỡng cực.

     + Đối với giai đoạn đầu tiên: Thường gặp nhất, đặc biệt là yếu tố gia đình với những biểu hiện tăng khí sắcv, thường tái phát trong thời gian ngắn hoặc dài, khi đó cho phép ta nghĩ tới giai đoạn đầu tiên của rối loạn lưỡng cực. Đôi khi giai đoạn đầu tiên sẽ tồn tại một cách đơn độc khi không có yếu tố gia đình trong khi người bệnh có biểu hiện lú lẫn [9],[11],[13].

Trầm cảm sau đẻ:      Loại này thường gặp và chiếm 20% số người mẹ trẻ tuổi, các triệu chứng xuất hiện trong suốt thời kỳ sơ sinh nhưng thường gặp ở giai đoạn muộn hơn. Bệnh thường xuất hiện 7-15 ngày sau đẻ

 - Các triệu chứng ít rầm rộ nên không đặt con họ vào tình trạng nguy hiểm

- Người mẹ không có khả năng chăm sóc con, thậm chí họ còn che dấu hành vi của họ

  • Trầm cảm nhẹ: Chiếm khoảng 10-15% phụ nữ có thai. Các dấu hiệu

lâm sàng thường gặp làl:

-         Cảm giác mệt mỏi, buồn chán, đuối sức

-         Có những cơn khóc

-         Dễ bị kích thích

-         Cảm thấy mình không có khả năng vì không chăm sóc con được tốt

-         Đôi khi chán ăn, khó ngủ, ác mộng, giảm tình dục, xung động ám ảnh

  • Trầm cảm mức độ trung bình: Thường có các biểu hiện như sau:

-         Trạng thái suy nhược, mệt mỏi, kiệt sức

-         Rối loạn giấc ngủ, mất dục năng

-         Luôn cho là mình có lỗi vì không chăm sóc được con

-         Dễ bị kích thích và xung động hướng tới người chồng vì cho là chồng thường vắng mặt, cho là con luôn làm ồn ào, hay đòi hỏi quá mức về chăm sóc đứa trẻ mới sinh. Đôi khi các biểu hiện chán ăn, giảm cân, rối loạn giấc ngủ cần được chẩn đoán sớm trầm cảm sau đẻ, nếu đứa trẻ phải nằm viện thì việc chia rẽ mẹ -con thường làm nặng thêm các triệu chứng trầm cảm. Các rối loạn trầm cảm này thường kéo theo rối loạn mối quan hệ mẹ -con.

  • Trầm cảm nặng sau đẻ: Loại trầm cảm này thường tiếp sau giai đoạn “ngày thứ 3“ với các triệu chứng trầm

cảm rõ nét“, thường kèm theo cảm giác cho là mình không có khả năng, cảm thấy mình có lỗi, không xứng đáng, tự buộc tội vì cho là mình chăm sóc con kém, là người mẹ xấu. Bệnh nhân thường rất lo âu sợ hãi, việc chăm sóc con ngày càng kém, thời gian tiếp xúc giữa mẹ và con ngày càng giảm, không còn sự âu yếm mẹ -con. Đặc biệt là xuất hiện ám ảnh xung động về đứa con, không quan tâm đến con, tránh không muốn tiếp xúc với con, không phấn khởi khi có con. Khi trầm cảm nặng, họ thường phủ định cuộc hôn nhân của mình, phủ nhận mình có thai, phủ nhận việc mình đã sinh con, khẳng định là con mình đã bị đánh tráo, con mình đã bị thay đổi giới tính. Họ có xu hướng sống cô lập, ngại tiếp xúc.

      Trầm cảm nặng thường xuất hiện trong những tháng sau đẻ, các biểu hiện lâm sàng của giai đoạn trầm cảm nặng thường gặp là các hoang tưởng hoặc tình trạng lú lẫn. Họ có thể thờ ơ, dửng dưng, kích động, xung động hoặc tự sát, hoặc giết con, do vậy cần thiết phải đưa vào bệnh viện điều trị. Một số bệnh nhân dễ tái phát lại các đợt trầm cảm về sau. Đa số các trường hợp, trầm cảm sau đẻ là giai đoạn đầu của rối loạn cảm xúc lưỡng cực sau này. Lúc này cần chẩn đoán là trầm cảm sau đẻ. Có thể trong thời kỳ có thai đã có những yếu tố đau buồn như gia đình có người thân mất, ly thân hoặc các điều kiện tâm lý khó khăn như sống cô đơn, xung đột vợ chồng, cách biệt xã hội.

   Các yếu tố thuận lợi cho phát bệnh trầm cảm nặng sau đẻ [ 8],[10]:

-         Khi người mẹ là thanh thiếu niên hoặc rất trẻ < 20 tuổi

-         Có con lần đầu > 35 tuổi

-         Quan hệ với mẹ của bệnh nhân thường không hoà thuận hoặc phải sống trong cảnh chia ly sớm trước đó, hoặc phải chịu đựng một sang chấn tâm lý mạnh.

-         Người mẹ là nạn nhân của sự phân biệt đối xử kéo dài suốt thời kỳ ấu thơ

-         Kết hôn trong điều kiện kinh tế và xã hội của mình gặp nhiều khó khăn

-         Các rối loạn tâm lý kéo dài trong suốt quá trình có thai (lo âul, trầm cảm), có thai ngoài ý muốn.

-         Tiền sử có rối loạn tâm thần trước khi đẻ hoặc đã bị rối loạn tâm thần khi đang có thai.

-         Trước đó đã có một con bị chết

-         Các điều kiện và hoàn cảnh mang thai khó khăn

-         Dị tật của đứa trẻ

-         Chồng không quan tâm đến 2 mẹ con, thậm chí bỏ mặc họ

-         Hội chứng ngày thứ 3 sau đẻ nặng nề

Hưng cảm sau đẻ:    Khởi phát rất đột ngột, thường xuất hiện 2 tuần sau đẻ với các biểu hiện: Kích động mạnh, nhiều ảo giác. Các hoang tưởng thường gặp là mình rất khoẻ mạnh, có những nhiệm vụ cao cả, các hoang tưởng bị chi phối, hoang tưởng về tình dục và bị hại.  Khoảng 50% tiến triển hướng tới trầm cảm nặng (mélancoliem).

1.2.1.4         Rối loạn tâm thần sau xảy thai, nạo thai:  Về cơ bản, đó là các giai đoạn trầm cảm, tuynhiên ít gặp hơn so với sau đẻ. Khi nạo thai thường mang những hậu quả xấu về tâm lý [9],[11]..

    Trầm cảm sau can thiệp y tế “ Dépression du Post -abortum”: Loại này hiếm gặp, ít có đảo lộn sinh học, thường gặp ở những bệnh nhân đã điều trị tâm thần nhiều hơn so với những người có thai bình thường. Tuy nhiên, những can thiệp y tế khi có thai có thể là nguyên nhân gây trầm cảm. Bệnh nhân thường có cảm giác tội lỗi do sự can thiệp này hơn là lý do để đảm bảo sức khoẻ cho người mẹ. Việc phá thai và chờ đợi sổ thai là giai đoạn khiến bệnh nhân rất lo âu. Trong tình huống này, bên cạnh yếu tố cảm xúc thì sự trưởng thành và tính dễ bị tổn thương của người mẹ là rất quan trọng, vì nó có thể gây ra những chấn thương về tâm thần. Sự việc đứa con chết trước khi sinh có tác động rất lớn đến cha mẹ và là một yếu tố nguy cơ gây trầm cảm khi có thai lần sau.

      Có hai hình thức nạo thai như  sau:

-         Nạo thai chủ động: chiếm khoảng 2/3 số bệnh nhân trầm cảm do nạo thai, trầm cảm thường kéo dài 1 tuần.

-         Nạo thai bắt buộc:  5-10% bệnh nhân sau nạo thai bắt buộc có thể xuất hiện hội chứng “ ngàythứ 3 sau đẻ ” với biểu hiệnh: Cơn khóc, buồn chán, luôn thấy hối tiếc.

1.2.1.5         Rối loạn tâm thần khi có thai:   Khi có thai, thường có các biểu hiện lo âu và tâm căn như:  cảm xúc dễ thay đổi, thờ ơ dửng dưng với mọi thứ, luôn cảm thấy suy nhược với đau đầu, mệt mỏi, ăn uống kém, ăn không thấy ngon, ban ngày muốn ngủ nhưng không ngủ được, ban đêm thì khó ngủ, nếu ngủ được thì cũng trong tình trạng mơ màng dễ tỉnh giấc và có khi có ác mộng, khi thức giấc trong đêm thì khó ngủ lại. Đôi khi xuất hiện các triệu chứng cơ thể, ám ảnh, đặc biệt là Hysterie (Hành vi xung độngH, nhi tính cùng với các đòi hỏi yêu sách).

      Các triệu chứng này giảm dần và hết sau 6 tháng, lo âu thường xuất hiện một vài tuần trước khi đẻ. Các triệu chứng cơ thể như lợm giọng, nôn, buồn nôn rất hay gặp trong tháng đầu tiên khi có thai [8],[9],[11],[13].

     Trầm cảm nhẹ: Chiếm 11 C- 17%, thường gặp nhất là trầm cảm tâm căn. Bệnh nhân thường có các biểu hiện sau:

- Nghiền ngẫm lo âu khi có thai, khi đẻ thường gặp các biểu hiện như suy nhược, hay phàn nàn về cơ thể.

- Xuất hiện trong những tháng đầu tiên khi có thai

- Bệnh thường gặp ở những người dưới 20 tuổi khi có sự xung đột vợ chồng, có thai ngoài ý muốn hoặc phải huỷ bỏ thai.

     Trầm cảm nặng: ít gặp hơn, thường xuất hiện vào những tháng cuối cùng trước khi đẻ. Bệnh thường biểu hiện các yếu tố lú lẫn và hoang tưởng ngay sau khi đẻ hoặc xuất hiện trong tháng đầu sau đẻ.

     Cuối cùng, để làm giảm mức độ nặng nề của bệnh, cần phải:

+ Điều trị tốt các triệu chứng loạn thần

+ Điều trị tốt các trạng thái tâm căn nặng.

1.2.1.6 Rối loạn dạng phân liệt: Người bệnh có thể có các biểu hiện của hội chứng Paranoidh, hành vi không phù hợp, cảm xúc khô lạnh kéo dài trong khoảng thời gian dưới 6 tháng.

-         Các triệu chứng nặng hơn trong suốt thời kỳ sau đẻ dưới dạng một giai đoạn lú lẫn hoang tưởng, hoặc dưới dạng âm ỉ.

-         Đôi khi người bệnh có xu hướng trở thành mạn tính và thường chẩn đoán là tâm thần phân liệt, chẩn đoán này càng được khẳng định khi trong gia đình có người bị bệnh tâm thần phân liệt, hoặc trong thời kỳ mang thai có một số dấu hiệu như:  cảm xúc cùn mòn, thờ ơ, khô lạnh, xa lánh mọi người.

1.2.1.7 Tâm thần phân liệt: Các biểu hiện lâm sàng không còn điển hình như loạn thần sau đẻ. Tuy nhiên, sau đẻ đã đẩy nhanh hiện tượng mất bù của trạng thái loạn thần đã có và ổn định trong suốt thời kỳ có thai với các biểu hiện mất sự thống nhất giữa các mặt của hoạt động tâm thần, không có sự liên kết giữa tư duy, cảm xúc và hành vi. Người bệnh thường có các biểu hiện tư duy rời rạc, không liên quan giữa các chủ đề do vậy họ thường nói những câu vô nghĩa khó hiểu. Rối loạn khí sắc với biểu hiện cảm xúc thờ ơ khô lạnh, hoặc khí sắc giảm với nét mặt u buồn, hoặc biểu hiện căng thẳng hằn học. Bệnh nhân có thể kích động hoặc trầm cảm với các hoang tưởng, ảo giác có thể dẫn tới hội chứng căng trương lực. Họ thường xa lánh mọi người, hành vi kỳ dị. Không còn khả năng chăm sóc được con do vậy thường có rối loạn quan trọng mối quan hệ mẹ -con.

1.3 Một số yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần và hành vi kết hợp với thời kỳ sinh đẻ:

1.3.1 Yếu tố gia đình:

       1.3.2 Yếu tố nhân cách: Theo nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ em mất cha mẹ thì yếu tố dễ bị tổn th­ương trầm cảm có thể kéo dài đến tận khi trư­ởng thành. Nguy cơ bị trầm cảm do bị mất cha mẹ thường gặp ở trầm cảm không nội sinh hơn so với trầm cảm nội sinh và dễ gây trầm cảm cấp. Trong thực tế, trầm cảm do mất cha mẹ là thư­ờng gặp hơn so với trầm cảm xuất hiện do vợ chồng mâu thuẫn hoặc quan hệ xấu giữa con và cha mẹ.  Tính dễ bị tổn th­ương trầm cảm có liên quan với quá trình quan tâm của cha mẹ với con khi còn ít tuổi, nhất là những đứa trẻ bị bỏ rơi, bị hắt hủi, bị đầy đoạ th­ường có những mặc cảm tội lỗi, thất vọng hoặc những đứa trẻ được nuông chiều, thiếu giáo dục đúng đắn...là những yếu tố dễ làm thay đổi nhân cách về sau.

      Yếu tố nhân cách đóng vai trò quan trọng trong việc phát sinh các rối loạn tâm thần. Nhân cách yếu (còn gọi là nhân cách nghệ sỹ yếuc) dễ phát sinh ra bệnh Hysterie. Nhân cách ưu tư khép kín, ít thổ lộ, rụt rè, thụ động và ít có chính kiến của mình, hay lo lắng, hay che dấu những tình cảm của mình, phụ thuộc quá nhiều vào người khác… dễ sinh ra trầm cảm. Nhân cách nóng nảy, hiếu thắng, yêu cầu quá cao đối với người khác cũng dễ phát sinh ra các rối loạn cảm xúc khi không thực hiện được mong muốn của mình.

       Nhân cách được phân theo kiểu dựa trên khí chất chiếm ưu thế gồm 4 loại sau [4]: 

- Nóng nảy: Đây là nhân cách của người có kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế. Nhanh thay đổi khí sắc, yêu, ghét rõ ràng, bộc trực, thẳng thắn, dễ nổi nóng, chú ý đến những cái lớn. Là người dễ có sáng kiến song kém bền bỉ trong công việc.

- Bình thản: Có kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, không lonh hoạt. Các mối quan hệ không rộng. Trong công việc họ chậm nhưng chắc, có khả năng thực hiện công việc một cách bền bỉ.

- Hăng hái, sôi nổi: Có kiểu thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt. Hăng hái trong công việc, dễ thích nghi với hoàn cảnh mới, quan hệ rộng, dễ bắt tay vào việc nhưng dễ rút lui, tình cảm thường không sâu bền. Tính tình vui vẻ, cởi mở dễ gần.

-ưu tư: Quan hệ hẹp nhưng sâu bền, dễ xúc động, nhút nhát, khó thích nghi với cái mới. Tính tình khép kín, ít thổ lộ. Hay nghĩ, lo lắng khi có một sự việc nhỏ nào đó. Rụt rè, khó quyết định một vấn đề nào đó

1.3.3 Yếu tố kinh tế: Yếu tố kinh tế  đóng vai trò rất quan trọng trong việc phát sinh trầm cảm như buôn bán thua lỗ, mất việc làm, thua chứng khoán, bị lừa đảo mất tiền, lấy chồng khi kinh tế quá khó khăn không đảm bảo nhu cầu hàng ngày mà không có sự hỗ trợ của gia đình 2 bên, vợ chồng không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp…trong khi có thai hoặc sắp sinh con đòi hỏi phải chi phí nhiều do vậy đã khiến cho người mẹ phải suy nghĩ rất nhiều, do vậy dễ phát sinh bệnh [13],[14].

1.3.4 Yếu tố xã hội: Nhiều nghiên cứu đã thực hiện trong 30 năm đã đ­ưa ra các quan điểm có giá trị về vai trò của các sự kiện mới trong cuộc sống đối với sự phát sinh trầm cảm. Các bệnh nhân trầm cảm mà trư­ớc đó 6 tháng đã có các sự kiện của cuộc sống tác động có tỷ lệ cao gấp 3 lần so với trầm cảm trong dân số chung. Hơn 60% trầm cảm giai đoạn đầu đư­ợc nghiên cứu ở bệnh viện tâm thần tr­ước đó đã có các stress. Nguy cơ trầm cảm tại một đối tư­ợng có một yếu tố sang chấn cao hơn khoảng 6 lần so với ng­ười không có yếu tố sang chấn, tuy nhiên các yếu tố này còn bị hạn chế vì có khoảng 10% đối t­ượng về sau mới bộc lộ trầm cảm. Mối liên hệ giữa các sự kiện và trầm cảm gồm 3 dạng sau:

+ Một số nghiên cứu đã so sánh ảnh h­ưởng của các stres trong các trầm cảm khác nhau nh­ưng nhiều khi khó có thể phân biệt đ­ược, ngay cả khi các trầm cảm tâm căn mà tr­ước đó đã có các yếu tố báo hiệu là trầm cảm nội sinh, trầm cảm u sầu hoặc tiếp theo của một rối loạn lưỡng cực. Có thể nghĩ tới trầm cảm tâm căn nếu là bệnh nhân trẻ tuổi mà trước đó đã có nhiều sự kiện tác động, và trầm cảm phản ứng nếu trư­ớc đó có một sang chấn mạnh trong khi đó trầm cảm của rối loạn lưỡng cực ít chịu ảnh hư­ởng bởi các sự kiện của cuộc sống .

+ Sự xuất hiện của các sự kiện hiện tại không chỉ gặp ở trầm cảm mà còn gặp trong khởi đầu của nhiều bệnh tâm thần như­: ý định tự sát, tâm thần phân liệt, rối loạn lo âu... hoặc các bệnh cơ thể. Tuy nhiên các sự kiện của cuộc sống ở trầm cảm đóng vai trò quan trọng hơn so với tâm thần phân liệt. Theo một số tác giả, có một sự liên hệ đặc biệt giữa các sự kiện báo trư­ớc với một số rối loạn tâm thần nh­ư: trầm cảm có liên quan mật thiết với các sự kiện tổn thất, trong khi các rối loạn lo âu lại liên quan nhiều với các sự kiện nguy hiểm.

    Bên cạnh đó, các yếu tố khác cũng góp phần làm xuất hiện trầm cảm như: trẻ em bị chấn thương tâm lý hoặc các sự kiện trong cuộc sống của người lớn có tác động đến chúng. Một số nghiên cứu cho thấy, có thể cha mẹ bị trầm cảm nhưng con của họ đã trưởng thành thì họ có khả năng chống lại các Stress, còn với trẻ em lớn lên cùng với cha hoặc mẹ bị trầm cảm thì có khoảng 10% trẻ bị trầm cảm, nếu cả cha và mẹ bị trầm cảm thì 30% trẻ có nguy cơ bị trầm cảm. Tuy nhiên, các chỉ số này không cao hơn so với các bệnh di truyền khác [14].

1.3.5 Yếu tố sinh học:Các rối loạn tâm thần có thể xuất hiện khi cơ thể có những thay đổi như: có thai, sau đẻ, nhiễm khuẩn hoặc nhiễm vi rút. Có nhiều thuyết cho là do có sự mất cân bằng hormon và hoá học của não có thể gây ra trầm cảm. Người ta thấy có sự khác nhau về mức độ của một số yếu tố sinh hoá giữa người có trầm cảm và người không có trầm cảm. Nghiên cứu về trầm cảm theo mùa cho thấy các tác nhân hoá học của não đảm bảo việc điều chỉnh khí sắc, sự ăn ngon miệng và giấc ngủ sẽ bị thay đổi theo sự thay đổi của cường độ ánh sáng. Những bệnh nhân trầm cảm theo mùa rất nhậy cảm với những thay đổi xung quanh và những phản ứng này sẽ tăng lên  khi thay đổi mùa do có sự thay đổi cường độ ánh sáng của mặt trời [14].

Điều trị:

-         Giai đoạn sơ sinh: Không nhất thiết phải điều trị thuốc. Có thể dùng liệu pháp tâm lý để người bệnh hiểu được vai trò và trách nhiệm của người mẹp, giúp họ vượt qua khó khăn và những lo âu khi sinh con.

    - Trầm cảm sau đẻ: Cần giúp đỡ người bệnh vượt qua trở ngại về xã hội do người bệnh không muốn tiếp xúc với ai, các giao tiếp xã hội bị cản trở

    Cần sử dụng thuốc chống trầm cảm đủ mạnh để hết các triệu chứng trầm

cảm vì bệnh có xu hướng trở thành mạn tính. Nếu trầm cảm nặng, nếu có các hành vi nguy hiểm cần phải được điều trị tại bệnh viện chuyên khoa tâm thần.

       Cần sử dụng thuốc chống loạn thần nếu có hoang tưởng, ảo giác.

    Nâng cao thể lực cho người bệnh

 

 

 

 

 

 

Chương 3

Kết quả nghiên cưu

3.1.1 Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

 

 Biểu đồ 3.1:  Lứa tuổi của bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu

 

          Lứa tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là nhóm tuổi từ  26-35 chiếm tới 62,50%. Tiếp đến là nhóm tuổi từ 16-25. Thấp nhất là nhóm 36-45 chỉ có 1 bệnh nhân

Bảng 3.1.  Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân nghiên cứu.

                                                BNNC

Hôn nhân

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Đã kết hôn

14

87,50

Ly hôn

2

12,50

Tổng số

16

100,00

     Cả 16 bệnh nhân đều đã kết hôn chiếm 87,5%, trong đó có 2 bệnh nhân ly hôn (12,5%)

 

 Biểu đồ 3.2:Nghề nghiệp ở bệnh nhân nghiên cứu

     Nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất ( 68,75% ), thấp nhất là các đối tượng ở các nghề nghiệp khác ( 8,75%)

 

Bảng 3.2. Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo trình độ học vấn.

 

                                                BNNC

Học vấn    

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Tiểu học

4

25,00

Trung học cơ sở

9

56,25

Trung học phổ thông

1

6,25

ĐH-CĐ-THCN

2

12,50

Tổng số

16

100,00

 

      Bệnh nhân có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất ( 56,25%), tiểu học là 25% và thấp nhất là nhóm BN có trình độ trung học phổ thông ( 6,25%)

 

 

 

 

Bảng 3.3. Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo nơi cư trú.

                                                BNNC    

Nơi cư trú

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Khu vực thành thị

3

18,75

Vùng đồng bằng Bắc bộ

7

43,75

Miền núi

6

37,5

Tổng số

16

100,00

   Bệnh nhân ở vùng đồng bằng Bắc bộ có tỷ lệ cao nhất ( 43,75%). Miền núi là 37,5% và thấp nhất là bệnh nhân cư trú ở khu vực thành thị 18.75%

3.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu

  Biểu đồ 3.3: Thời gian phát bệnh sau đẻ của  bệnh nhân nghiên cứu

      Số bệnh nhân phát bệnh sau đẻ 6 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất ( 43,75% ), tiếp đến là tuần thứ 4 chiếm 31,25% và thấp nhất là tuần thứ 5 chỉ chiếm 6,25%

Bảng 3.4. Biểu hiện  trầm cảm và lo âu của bệnh  nhân nghiên cứu

Triệu chứng

Nhóm bệnh

n

Trầm cảm

Lo âu

n

%

n

%

N1

5

3

60,00

2

40,00

N2

11

8

72,72

2

18,18

Tổng số

16

11

68,75

4

25

   Trong số 16 bệnh nhân thì có tới 11 bệnh nhân (  68,75% ) có biểu hiện trầm cảm và 4 bệnh nhân có lo âu, các bệnh nhân này đều phải điều trị bằng thuốc chống trầm cảm và giải lo âu

Bảng 3.5. Rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân nghiên cứu

 

                                       Nhóm bệnh

Triệu chứng

N1 =5

N2=11

n

%

n

%

Khí sắc giảm, buồn rầu

2

40,00

7

63,63

Bi quan, chán nản

 

 

7

63,63

Đau khổ, thất vọng

1

20,00

2

18,18

Khóc lóc

3

60,00

3

27,27

Hoảng sợ, căng thẳng

1

20,00

7

63,63

Hằn học

 

 

1

9,09

Giảm các sở thích cũ

 

 

7

63,63

Khí sắc tăng, vui vẻ

 

 

1

9,09

Tăng sinh lực

 

 

1

9,09

 

    Cả 2 nhóm có 9 BN ( 56,25%) biểu hiện buồn rầu, hoảng sợ căng thẳng có 8 BN (50%), 6 BN (37,5%) có biểu hiện khóc lóc 

  Các biểu hiện buồn rầu, bi quan, chán nản, hoảng sợ, căng thẳng, giảm các sở

thích cũ ở nhóm N2 cao hơn nhóm N1.  Các biểu hiện khóc lóc lại gặp nhiều ở nhóm N1. Các biểu hiện vui vẻ, tăng sinh lực chỉ gặp ở nhóm N1.

  Biểu đồ 3.4:Rối loạn cảm xúc của  bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.6. Rối loạn tư duy, tri giác ở bệnh nhân nghiên cứu

                                       Nhóm bệnh

Triệu chứng

N1 =5

N2=11

n

%

n

%

Chậm chạp, ít nói

 

 

2

18,18

Không nói

2

40,00

1

9,09

Than vãn, kể lể

1

20,00

3

27,27

Ý định tự  sát

1

20,00

3

27,27

ảo giác

 

 

5

45,45

Hoang tưởng bị hại

 

 

5

45,45

Hoang tưởng bị xâm nhập

 

 

3

27,27

Hoang tưởng ghen tuông

 

 

1

9,09

Hoang tưởng tự cao

 

 

1

9.09

 

   Loạn thần chủ yếu gặp ở nhóm N2, tất cả có 10/16 (62,5%) BN có HT (trong đó có 5 BN có ảo thanh ra lệnh t)   

      Các biểu hiện không nói ở nhóm N1 có tỷ lệ cao hơn nhóm N2. Các biểu hiện than vãn kể lể, ý định tự sát ở nhóm N2 có tỷ lệ cao hơn nhóm N1. Ý định tự sát cả 2 nhóm có 4 người, chiếm 25%

Biểu đồ 3.5:Rối loạn  tư duy, tri giác của  bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.7. Rối loạn hành vi ở bệnh nhân nghiên cứu

                                       Nhóm bệnh

Triệu chứng

N1 =5

N2=11

n

%

n

%

Giảm vận động, nằm nhiều

2

40,00

1

9.09

Bồn chồn, đứng ngồi không yên

3

60,00

7

63,63

Từ chối ăn

1

20,00

2

18,18

Kích động

1

20,00

4

36,36

Tấn công

1

20,00

1

9.09

Ghét chồng

1

20,00

2

18,18

Không chăm sóc con

1

20,00

4

36,36

Ghét con

 

 

2

18,18

Muốn giết con

 

 

1

9.09

Gây đau trẻ khác

 

 

1

9.09

Hành vi tự sát

 

 

2

18,18

    Bồn chồn, đứng ngồi không yên có 10 BN (62,5%). Kích động có 5 BN (31,25%). Không chăm sóc con co 5 BN (31,25%).

      Các biểu hiện bồn chồn, đứng ngồi không yên, kích động, không chăm sóc con, hành vi tự sát ở nhóm N2 có tỷ lệ cao hơn nhóm N1

 

 Biểu đồ3.6:Rối loạn  hành vi của  bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.8. Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân nghiên cứu

                                       Nhóm bệnh

Triệu chứng

N1 =5

N2=11

n

%

n

%

Trí nhớ giảm, hay quên

4

80,00

10

62,50

Mất nhớ

1

20,00

 

 

Tăng nhớ

 

 

1

9,09

 

      Đa số bệnh nhân đều có trí nhớ giảm, tổng số cả 2 nhóm có tới 14/16 bệnh nhân có trí nhớ giảm, trong đó nhóm N1 có tỷ lệ cao hơn nhóm N2

 

Bảng 3.9.  Liên quan giữa số lần phát bệnh với mức độ nặng của bệnh

                                       Nhóm bệnh

Số lần

N1 =5

N2=11

n

%

n

%

1 lần 1

4

80,00

4

36,37

Từ 2 – 3 lần

1

20,00

7

64,63

Tổng số

5

100,00

11

100,00

 

    Từ 2 – 3 lần phát bệnh có tỷ lệ bệnh nặng cao hơn so với nhóm có 1 lần phát bệnh

3.3. Một số yếu tố liên quan đến phát  bệnh

Bảng 3.10. Tuổi khởi phát, tháng mắc bệnh trong năm.

 

Tháng

Tuổi

 

 

1

 

2

 

3

 

4

 

6

 

7

 

10

 

11

 

12

16-25

6

1

1

1

1

2

 

 

 

 

26-35

10

2

1

 

1

1

1

2

1

1

Tổng số

16

3

2

1

2

3

1

2

1

1

 

Tuổi khởi phát trung bình là 27,5 ± 9,01

Số bệnh nhân mắc bệnh theo tháng:

Tháng 1: 3 người chiếm 18.75%          Tháng 6: 3 người chiếm 18.75 %           

Tháng 2: 2 người   chiếm 12.5 %         Thâng 7: 1 người chiếm  6.25 %        

Tháng 3: 1 người  chiếm 6.25%         Tháng 10: 2 người chiếm 12.5 %         

Tháng 4: 2 người chiếm 12.5 %          Tháng 11: 1 người chiếm  6.25 %                                     

                                                              Tháng 12: 1 người chiếm 6.25 %    

     Tháng 1 và tháng 6 có tỷ lệ bệnh nhân phát bệnh cao nhất (18.75). Tiếp đến là tháng 2, tháng 4 và tháng 10 (12.5 %) . Thấp nhất là các tháng 3, 7, 11, 12 mỗi tháng chỉ chiếm 6,25%.        

      Biểu đồ 3.7: Số bệnh nhân nghiên cứu mắc bệnh theo tháng

 

Bảng 3.11. Các yếu tố liên quan đến hôn nhân và gia đình

 

                                       Nhóm bệnh

Hôn nhân -gia đình

N1 =5

N2=11

n

%

n

%

Ly hôn

1

20,00

1

9,09

Vợ chồng không hoà thuận

1

20,00

1

9,09

 

     Cả 2 nhóm có 4/16 bệnh nhân phát bệnh liên quan đến hôn nhân và gia đình, chiếm 25%

 

 

 

 

 

Bảng 3.12. Gia đình có người bị bệnh tâm thần

                       Quan hệ

Tình trạng bệnh

 

   n

Quan hệ cấp 1

Quan hệ cấp 2

n

n

Trầm cảm

1

1

0

Rối loạn cảm xúc lưỡng cực

1

1

0

Tổng số

2

2

0

     

    Có 2 /16 bệnh nhân (chiếm 12c,5%) là có yếu tố gia đình thì cả 2 trường hợp này đều có người thân ruột thịt (Quan hệ cấp 1 Q) bị bệnh trầm cảm và rối loạn lưỡng cực. Quan hệ cấp 2 (họ hàngh), không thấy có trường hợp bệnh nhân nào có người họ hàng bị bệnh tâm thần. 

Bảng 3.13. Nhân cách tiền bệnh lý:

 

 

STT

                                           BNNC

Kiểu nhân cách

 

n

 

Tỷ lệ

1

Nóng nảy

1

6,25

2

Bình thản

0

0

3

Hăng hái, sôi nổi

6

37,5

4

ưu tư

9

56,25

Tổng số

16

100,00

 

     Số BN có nhân cách tiền bệnh lý thuộc loại ưu tư chiếm tỷ lệ cao nhất (56,25%), tiếp đến là nhóm có nhân cách hăng hái, không có bệnh nhân nào có nhân cách thuộc nhóm bình thản.

 

 

 

Bảng 3.14. Các yếu tố thúc đẩy phát bệnh

 

Các yếu tố thúc đẩyC

 

 

Nhóm bệnh

 

n

Các yếu tố kinh tế, xã hội, nghề nghiệp, sinh học

Kinh tế

Xã hội

Nghề

nghiệp

Bệnh khác

n

%

n

%

n

%

n

%

N1

1

 

 

 

 

 

 

1

100,0

N2

5

3

60,00

1

20,00

1

20,00

 

 

Tổng số

6

3

50,00

1

16,67

1

16,67

1

16,67

    

     Trong số 16 bệnh nhân nghiên cứu thì có 6 bệnh nhân có các yếu tố liên quan với quá trình phát bệnh.

     Trong số 6 yếu tố liên quan đến phát bệnh thì yếu tố kinh tế chiếm tỷ lệ cao nhất ( 50%). Tiếp theo là các yếu tố xã hội, nghề nghiệp và do mắc các bệnh khác, mỗi loại yếu tố chỉ chiếm 16,67%.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương 4

Bàn luận

4.1  Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

4.1.1 Phân nhóm bệnh  nhân theo tuổi tại thời điểm nghiên cứu

     Lứa tuổi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất là nhóm tuổi từ 26-35 chiếm tới 62,50%. Tiếp đến là nhóm tuổi từ 16-25. Thấp nhất là nhóm 36-45 chỉ có 1 bệnh nhân (6,25) (Biểu đồ 3.1).

4.1.2    Tình trạng hôn nhân của bệnh nhân nghiên cứu.  Cả 16 bệnh nhân

đều đã kết hôn chiếm 87®,5%, trong đó có 2 bệnh nhân ly hôn (12,5%)

4.1.3. Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu theo nghề nghiệp

    Nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất ( 68,75% ), có thể do sự hiểu biết của người nông dân còn hạn chế, có thể ít tiếp xúc với các phương tiện truyền thông hoặc sách báo về y tế về vấn đề sinh đẻ, do vậy họ dễ mắc bệnh hơn do không có sự chuẩn bị tốt về tâm lý trước và sau khi sinh, thậm chí khi bệnh đã xuất hiện cũng không biết xử trí như thế nào cho nên tỷ lệ loạn thần sau đẻ cao nhất so với các đối tượng khác (Biểu đồ 3.2).

4.1.4  Phân nhóm bệnh nhân rối loạn trầm cảm theo trình độ học vấn.

      Bệnh nhân có trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất ( 56,25%). Với trình độ này thì sự hiểu biết về các kiến thức phòng bệnh có liên quan đến sinh đẻ là rất hạn chế, do vậy họ dễ mắc bệnh hơn các đối tượng khác. Hiện nay số BN có trình độ tiểu học là rất ít, hầu hết là THCS. Với các BN có trình độ từ THPT đến CĐ-ĐH thì sự hiểu biết của họ cao hơn do vậy họ có thể có những giải pháp tự điều hoà các mối quan hệ trong gia đình nên tỷ lệ mắc bệnh thấp

4.1.5. Phân nhóm bệnh nhân rối loạn trầm cảm theo nơi cư trú.

   Bệnh nhân cư trú ở vùng thành thị chiếm tỷ lệ thấp nhất (18.75%). Điều đó chứng tỏ các bà mẹ được chăm sóc tốt hơn về các dịch vụ y tế. Họ được kiểm tra định kỳ trong thời kỳ thai nghén cho đến khi sinh do vậy tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất.

4.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu

4.2.1. Thời gian phát bệnh sau đẻ

      Số bệnh nhân phát bệnh sau đẻ 6 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất ( 43,75% ), tiếp đến là tuần thứ 4 chiếm 31,25%, tuần thứ 2 là 18,75 % và thấp nhất là tuần thứ  5 chỉ chiếm 6,25% (Biểu đồ 3.3). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khác biệt với kết quả nghiên cứu của các tác giảGerard A. ; Raffaitin ; Cuche H.(1995) [9], theo các tác giả này, loạn thần sau đẻ trong 4 tuần đầu chiếm tới 80% và cao điểm nhất là vào ngày thứ 10 sau đẻ. Theo chúng tôi, sự khác biệt này có thể do nền văn hoá khác nhau, ở Việt Nam, khi trong gia đình có thành viên mới thì cả gia đình rất phấn khởi, chăm lo cho mẹ và con trong tình thương yêu, đặc biệt là sự chăm sóc của ông, bà…do vậy các bà mẹ không cảm thấy bị cô đơn, không cảm thấy bị tách biệt với mọi người, không cảm thấy bị tách biệt với xã hội. Trong khi đó, ở các nước phương tây, họ thường sống tách biệt gia đình nên khi sinh đẻ họ sẽ cảm thấy cô đơn khi một mình nuôi con trong khi chồng phải đi làm việc cả ngày, có thể vì vậy mà tỷ lệ phát bệnh cao nhất trong tháng đầu tiên, nhất là 10 ngày sau đẻ.

4.2.2. Biểu hiện trầm cảm và lo âu của bệnh  nhân nghiên cứu

    Trong số 16 bệnh nhân thì có tới 11 (68,75%) BN bị trầm cảm. Theo Sutter -Dallay. L( 2009) [12], trầm cảm nhẹ sau đẻ chiếm 20%. Nghiên cứu của chúng tôi gặp cả các loại trầm cảm như trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa và trầm cảm nặng, khi điều trị tại bệnh viện họ đều phải dùng thuốc chống trầm cảm cho nên tỷ lệ cao hơn tác giả Sutter -Dallay. L.. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số bệnh nhân sau đẻ mắc trầm cảm chiếm tỷ lệ khá cao, do vậy khi điều trị bệnh nhân loạn thần sau đẻ cần lưu ý tìm các triệu chứng trầm cảm để điều trị đạt hiệu quả cao nhất.

 

4.2.3. Rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân nghiên cứu

          Các BN nghiên cứu nhóm N2 là các BN có rối loạn tâm thần và hành vi

nặng có các biểu hiện buồn rầu, bi quan, chán nản, hoảng sợ, căng thẳng, giảm các sở thích cũ cao hơn nhóm N1 (Biểu đồ 3.4).

      Biểu hiện buồn rầu: Người bệnh luôn thấy buồn chán, họ không hiểu vì sao lại buồn như vậy mặc dù gia đình vẫn quan tâm chăm sóc, nỗi buồn day dứt khiến họ không lúc nào được cảm thấy dễ chịu, họ luôn cảm thấy đau khổ, buồn rầu ủ rũ, không lúc nào gia đình thấy BN có những biểu hiện vui trên nét mặt khi mình đã có con. Họ luôn cảm thấy bi quan chán nản, lo lắng về tương lai, đa số trong số họ lo là cuộc sống sắp tới rất khó khăn, họ lo nghĩ nhiều về kinh tế, họ lo con mình rồi đây sẽ ra sao. Vì đa số BN là nông dân, trình độ thấp nên họ rất lo mình không có đủ điều kiện nuôi con tử tế khi mình không có nghề nghiệp ổn định. Có người lo là con mình sẽ hư hỏng, sẽ bị bệnh này bệnh kia.

      Biểu hiện căng thẳng, hoảng sợ gặp ở những bệnh nhân trầm cảm có loạn thần, người bệnh nhìn thấy những khuôn mặt ghê sợ, nhìn thấy quỷ, thấy ma quỷ nhập vào người nên họ rất kinh sợ, có lúc họ nhìn mặt con nhưng cứ tưởng là nhìn thấy đứa trẻ xa lạ đã chết. Có BN nghe thấy tiếng nói xui bóp chết con nhưng BN không thực hiện và rất căng thẳng khi phải đấu tranh chống lại ảo thanh xui khiến này. Có BN căng thẳng, hoảng sợ do luôn lo lắng cho là đứa con của mình sắp chết, vì vậy BN suốt ngày đòi ôm con và kiên quyết không đưa cho ai bế, có người trời lạnh nhưng cứ lo con bị nóng do mặc nhiều do vậy cứ cởi hết quần áo của bé ra nằm lạnh, chồng phải dùng vũ lực mới lôi được con ra.

    Biểu hiện khóc lóc, kêu than lại gặp nhiều ở nhóm N1 hơn nhóm N2. Họ hay than phiền, oán trách chồng con không quan tâm, gia đình bỏ mặc nên họ thấy tủi thân và khóc lóc than thân trách phận

 

4.2.4. Rối loạn tư duy, tri giác ở bệnh nhân nghiên cứu

    Biểu hiện chậm chạp, ít nói chỉ gặp ở nhóm N2, sau đẻ bệnh nhân có biểu hiện ít nói hơn mọi ngày, làm việc gì cũng chậm chạp, có khi mãi mới làm

xong một công việc gì đó.

    Ý định tự sát ở nhóm N2 có tỷ lệ cao hơn nhóm N1, bệnh nhân thường phàn

nàn là muốn chết do buồn chán, bi quan thất vọng, các bệnh nhân này thường có trầm cảm kèm theo khi được kiểm tra bằng thang Beck. Ý định tự sát thường khá mạnh và kéo dài mặc dù được gia đình động viên nhưng họ vẫn muốn thực hiện hành vi tự sát nếu có điều kiện (Biểu đồ 3.5).

      Các hoang tưởng gặp trong nghiên cứu là HT bị hại và HT bị xâm nhập là nhiều hơn cả.  Loạn thần chủ yếu gặp ở nhóm N2, tất cả có 10/16 (62,5%) BN có HT (trong đó có 5 BN có ảo thanh ra lệnh t). Theo Sutter-Dallay. L ; Dallay.D ( 2009)[12], có tới 70-80% số bệnh nhân sau đẻ có các biểu hiện  oạn thần. 

     Nói chung không thấy có BN nào có HT tập trung vào đứa con do mình mới sinh ra như: Con mình bị thay đổi giới tính, con mình đã chết, con không phải do mình sinh ra..., điều này có khác với một số nghiên cứu của tác giả Gerard A.  [8].

4.2.5. Rối loạn hành vi ở bệnh nhân nghiên cứu

      Số BN có biểu hiện giảm vận động, nằm nhiều ở nhóm N1 nhiều hơn nhóm N2, họ thường kêu là mệt mỏi, mệt mỏi ngày càng nhiều nên họ không muốn làm bất cứ việc gì, buổi sáng cũng không dậy vệ sinh cá nhân và ăn sáng, gia đình thường xuyên phải gọi. Khi dậy cũng uể oải mệt mỏi, ngồi chỗ này, sang chỗ khác nằm. Vì vậy một số người đã từ chối không ăn, gia đình động viên, ép cũng không ăn vì không muốn ăn, không có cảm giác ngon miệng.

     Một số BN trong tình trạng bồn chồn đứng ngồi không yên, luôn thấy bứt rứt khó chịu trong người, có người thấy cồn cào ruột gan, thấy nóng rát ruột gan rất khó chịu khiến nhiều người liên tục đi lại, có người đi suốt cả ngày lẫn

đêm không thể ngủ được và một số người trong số này chỉ muốn tự sát cho đỡ

khổ vì không thể chịu đựng hơn được nữa.

    Biểu hiện kích động ở BN loạn thần sau đẻ thường gặp là kêu khóc, gào to, quát tháo ầm ĩ nhất là khi cách ly với con, đập phá, cào cấu, chửi bới tất cả mọi người kể cả bố mẹ. Vì vậy, có BN đã tấn công lại khi có ai đó vào can thiệp.

       Có BN rất ghét chồng, căm thù chồng, liên tục chửi bới tố cáo chồng, cho là chồng bỏ rơi, làm khổ mình, đi ngoại tình...nên đã đánh lại chồng.

      Có tới 1/3 số BN không có khả năng chăm sóc được con, không cho con bú, không thay tã cho con, con đái ướt đẫm cũng kệ, con khóc cũng không dỗ, có người không biết thay tã cho con, có BN cứ cởi hết tã của con ra cả đêm vì cho là nó nóng mặc dù trời lạnh khiến chồng phải đưa con đi chỗ khác. Có BN rất ghét con vì cho là nó làm khổ mình, nó quấy suốt đêm làm mình không ngủ được nên BN không cho bú, vì thế con càng đói càng khóc, càng khóc BN lại càng ghét con hơn.

    Đặc biệt trong số 16 BN thì có 1 BN muốn giết con, chỉ muốn bóp cổ con và BN này đã rất căng thẳng nên người nhà phát hiện được ý định và phải đưa đứa tre đi chỗ khác. Có 1 BN rất thích gây đau cho trẻ khác, khi thấy trẻ con đến thì cấu, véo cho nó khóc và BN cảm thấy rất thích thú và nhẹ nhõm người khi thực hiện được hành vi của mình.

     Có 2 BN đã thực hiện hành vi tự sát bằng uống thuốc tân dược nhưng đã được phát hiện kịp thời (Biểu đồ3.6).  

4.2.6. Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân nghiên cứu

      Một điều thấy rõ là có tới 14/16 BN có biểu hiện trí nhớ giảm. Bệnh nhân hay quên, làm đâu quên đấy, làm việc này lại quên việc khác, quên cả giờ cho con ăn, có người quên cả tên người thân, bạn bè đến thăm và phải một lúc mới nhớ lại được. Các BN này đều hồi phục trí nhớ tốt sau một thời gian điều trị.

      Có 2 BN mất nhớ trong tình trạng kích động căng thẳng, nói linh tinh và sau khi ổn định BN như trong tình trạng bàng hoàng ngơ ngác sau khi sự việc

 

xảy ra và lại hỏi thì không nhớ các sự việc đã xảy ra, mình đã nói những gì .

      Có 1 BN có biểu hiện tăng nhớ khi có mặt người nhà để thăm khám, BN đã nhớ những chi tiết rất nhỏ đã xảy ra từ rất lâu rồi thậm chí người nhà cũng không còn nhớ, nhưng khi BN nói ra thì người nhà công nhận là có thực.

4.2.7.    Liên quan giữa số lần phát bệnh với mức độ nặng của bệnh

     Khi có số lần phát bệnh nhiều hơn thì tỷ lệ BN rối loạn tâm thần và hành vi nặng liên quan với sinh đẻ ( N2) cao hơn nhóm rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ ( N1). Điều này cho thấy, cần quan tâm hơn đối với các BN rối loạn tâm thần sau khi sinh khi đã có nhiều lần phát bệnh, cần đưa họ ngay vào viện nếu có biểu hiện rối loạn tâm thần để kịp thời ngăn chặn những diễn biến xấu do bệnh gây ra.

4.3. Một số yếu tố liên quan đến phát  bệnh

4.3.1 Một số yếu tố liên quan đến phát bệnh.

4.3.2.1 Tuổi khởi phát và tháng mắc bệnh trong năm

     Tuổi khởi phát trung bình là 27,5 ± 9, 01. Kết quả của chúng tôi khác với kết quả nghiên cứu của Ben Abbas M và cs (2009) [5], theo đó lứa tuổi mắc bệnh nhiều nhất là từ 30-40 tuổi. Hardy -Baylé M.C [11], lứa tuổi mắc bệnh thường gặp ở BN loạn thần sau đẻ là 35 tuổi. Có thể giải thích sự khác biệt này là do ở Việt nam thường kết hôn sớm hơn ở các nước Phương Tây, do vậy tuổi khởi phát ở phụ nữ sau đẻ ở Việt nam cũng thấp hơn ở châu âu.

     Nếu tính theo mùa năm 2010:

Lập xuân:  ngày 4.2 dương lịch

Mùa hè:  ngày 5.2. dương lịch

Mùa thu: ngày 6.8  dương lịch

Mùa đông: ngày 7.11  dương lịch

     Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: Tháng 1  (mùa đôngm) và tháng 6 (mùa hè m) có tỷ lệ bệnh nhân phát bệnh cao nhất (18.75).  Như vậy ta thấy, đây là 2 mùa điển hình trong năm là mùa nóng và mùa lạnh, cả 2 mùa này đều ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người và con người cũng rất dễ mắc các loại bệnh khác nhau trong. Với người phụ nữ khi sinh vào mùa này, bên cạnh những thay đổi mạnh trong cơ thể kết hợp với thời tiết khắc nghiệt càng làm cho bệnh dễ phát sinh. Cho nên, cần hết sức chăm lo sức khoẻ cho người phụ nữ khi sinh vào mùa hè và mùa đông, cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho người mẹ, đồng thời đảm bảo cho người mẹ được thoáng mát về mùa hè và ấm áp về nmùa đông (Biểu đồ 3.7).

4.3.2.2  Các yếu tố liên quan đến hôn nhân và gia đình

     Có 2 trường hợp ly hôn và 2 trường hợp vợ chồng bất hoà, tức là có 4/16     (chiếm 25c%) số BN phát bệnh do có liên quan đến hôn nhân và gia đình. Điều này cho thấy gia đình đóng vai trò lớn trong việc phát bệnh, nhất là vai trò của người chồng.

4.3.2.3         Gia đình có người bị bệnh tâm thần

   Trong số 16 BN thì có 2 bệnh nhân (12,5%) có người thânruột thịt ( Quan

hệ cấp 1) bị bệnh trầm cảm và rối loạn lưỡng cực. Theo P.Meguffin, R.Katz (1989) cho thấy: 7,8% (1,5-7,9) có nguy cơ mắc RLCXLC, và 11,4% (0,5-22,4) có nguy cơ mắc RLTC tại những gia đình có người mắc bệnh RLCXLC có quan hệ ruột thịt với BN (cấp 1). Với quan hệ họ hàng (cấp 2), nguy cơ mắc RLCXLC là 0,6 % và nguy cơ mắc RLTC là 9,1% (5,9-15,4) [6].

4.3.2.4         Yếu tố nhân cách tiền bệnh lý

    Trước khi mắc bệnh, nhóm bệnh nhân có nhân cách ưu tư chiếm tỷ lệ cao nhất ( 56,25%), đó là những bệnh nhân có tính tình khép kín, ít thổ lộ và họ thường âm thầm chịu đựng kể cả các hành động bạo lực của chồng, chồng hay cờ bạc, rượu chè khiến họ cũng không dám góp ý, họ muốn trong gia đình không có sự to tiếng và nhiều ông chồng biết vậy càng ức hiếp họ. Họ hay suy nghĩ và lo lắng khi có một sự việc nhỏ nào đó, họ hay nghĩ nhiều về tương lai của mình sau này không biết sẽ ra sao, con mình sẽ như thế nào. Họ thường khó đưa ra một quyết định nào đó mà thường phải hỏi ý kiến chồng, hoặc bố mẹ [4].

      Theo một số tác giả, nguyên nhân gây trầm cảm gồm có 4 loại sau [14]:

-         Yếu tố gia đình

-         Yếu tố nhân cách: đặc biệt là nhóm người có nhân cách ưu tư  dễ bị mắc

trầm cảm nhấtt, vì họ thường âm thầm chịu đựng, trong khi những nhóm nhân cách khác ít bị hơn vì họ có thể trao đổi, giải các Stress với những người khác hoặc tổ chức vui chơi dã ngoại...

-         Các vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội

-         Mắc các bệnh khác như HIV, AIDS, ung thư…

4.3.2.5         Các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội...  

      Yếu tố kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng gây ra bệnh, trong nghiên cứư của chúng tôi có tới 50% mắc bệnh có liên quan về các vấn đề kinh tế. Thường các cặp vợ chồng trẻ chưa có nghề nghiệp ổn định cho nên vấn đề kinh tế đã khiến họ phải quan tâm ngay từ sau khi cưới, kinh tế khó khăn lại sinh con khiến họ càng suy nghĩ nhiều, nhiều người cảm thấy bế tắc trong cuộc sống do kinh tế eo hẹp. Có người làm ăn thua lỗ lúc nào cũng lo phải kiếm tiền trả nợ. Do vậy, với phụ nữ trước và sau khi sinh cần hết sức ổn định cuộc sống, cần động viên họ không nên quá lo lắng về kinh tế để họ tránh bị mắc bệnh

      Trong nghiên cứu của chúng tôi, 10/16 BN (chiếm 62,5%) tự phát bệnh mà không có bất cứ một nguyên nhân nào, như vậy yếu tố nội sinh đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy bệnh phát triển. Nhiều tác giả đã nhận thấy có sự biến đổi nồng độ của Hormon sinh dục đặc biệt là Oestrogèn, vì hormon này và một số chất dưỡng thai cũng giảm đột ngột sau đẻ, giải phóng ức chế

prolactine mà những chất này đều có tác động qua lại với Dopamine), có thể

gây ra trầm cảm, hội chứng ngày thứ 3, loạn thần sau đẻ cấp [8].

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kết luận

Tuổi khởi phát trung bình là 27,5 ± 9,01.

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu

 -  Thời gian phát bệnh sau đẻ:  Tỷ lệ bệnh nhân phát bệnh sau đẻ 6 tuần chiếm tỷ lệ cao nhất (43,75%).

- Từ 2 lần phát bệnh trở lên có tỷ lệ loạn thần cao hơn 1 lần phát bệnh

Rối loạn cảm xúc:   

    - Các biểu hiện buồn rầu, khóc lóc, hoảng sợ căng thẳng, giảm các sở thích  chiếm tỷ lệ cao

   - 11/16 bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm (chiếm 68c,75% )

Rối loạn tư duy, tri giác:

-         Không nói ( 40 %)

-         Ý định tự sát ở cả 2 nhóm chiếm 25%

-         Hoang tưởng bị hại (45,45%). Hoang tưởng bị xâm nhập (27,27%).

-         ảo giác (45,45%).

Rối loạn hành vi:

 - Bồn chồn, đứng ngồi không yên (62,5%).

- Kích động (31,25%).

- Không chăm sóc con (31,25%).

- Hành vi tự sát (12,5%)

Một số yếu tố liên quan đến phát  bệnh

+  Tháng 1 và tháng 6 có tỷ lệ bệnh nhân phát bệnh cao nhất (18.75).

+ Yếu tố hôn nhân: 25% phát bệnh liên quan đến hôn nhân và gia đình.

+ Yếu tố nhân cách: Loại nhân cách ưu tư  chiếm tỷ lệ cao nhất (56,25%),

+  Yếu tố gia đình (Quan hệ cấp 1 Q) chiếm 12,5%

+ Yếu tố kinh tế chiếm  18,75 %.

 

Kiến nghị

-         Tăng cường công tác giáo dục trên các phương tiện truyền thông đại chúng để nhân dân hiểu rõ về bệnh, hướng dẫn họ cách tự phòng tránh bệnh, người chồng cần đặc biệt quan tâm đến vợ trong quá trình sinh đẻ

-         Cần quan tâm chú ý đến những đối tượng có tiền sử gia đình bị bệnh

-         Cần lưu ý đến 2 mùa nóng và rét khi bệnh nhân sinh đẻ vào 2 mùa này

-         Cần đưa vào chương trình đào tạo để nâng cao trình độ cho các thầy thuốc về lĩnh vực này.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

Tiếng việt

  1. 1.     Trương Thị Kim Dung ( 1996 ),Rối loạn tâm thần thời kỳ sau đẻ. Một số chuyên đề tâm thần học. Học viện quân Y, tr 21-22
  2. 2.     Tô Thanh Phương ( 2007 ), Nhận xét bước đầu điều trị 10 bệnh nhân loạn thần sau đẻ có trầm cảm và lo âu.Tạp chí y học thực hành, số 3-2007, tr 50-52
  3. 3.     Tổ chức y tế thế giới ( 1992),Phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 về các rối loạn tâm thần và hành vi.Bản dịch tiếng Việt, Geneva, tr 87-100
  4. 4.     Nguyễn Sinh Phúc ( 2007), Cấu trúc của nhân cách

   Tâm thần học và tâm lý y học, học viện quân y. Nhà xuất bản quân đội nhân dân, tr 337-341

Tiếng Pháp

  1. 5.     Ben Abbas M. ; Bênlmouloud O. ; Mellal (2009). La depression du post-partum. Evaluation des facteur de risques

http://www.google.com/search?sourceid=navclientαgfns=Iαie=UTF-8αrlz=IT4GFREviVN323VN323αq=trouble+psychiques+de+la+grossesse+et+du+post-partum.

  1. 6.     Canceil O.; Guedj  F.; Brochier T. (1995), Données actuelles de la génétique, Les maladies dépressives, Médecine-Sciences-Flammarion, pp. 305-308
  2. 7.     Danion-Grillat. A; Sibertin-Blanc.D (2009).Troubles psychiques de la grossesse et du post-partum.

 http://www.google.com/search?sourceid=navclientαgfns=Iαie=UTF-8αrlz=IT4GFREviVN323VN323αq=trouble+psychiques+de+la+grossesse+et+du+post-partum.Pp17-27

  1. 8.     Duverger Ph ; Malka.J (2009),Troubles psychiques de la grossesse et du post-partum.

http://www.google.com/search?client=qswinαrlz=IR3GFRE-viVN323VN323αq=trouble+psychiques+de+la+grossesse+et+du+post-partum.Pp2-13

  1. 9.     Gerard A. ;Raffaitin ; Cuche H. (1995), Depression chez la femme, les maladie depressives, Médecine-Sciences-Flâmmrion, pp.84-89
  2. 10.                        Gorwood.p. Kessler V (2009), la psychose puerperale un modèle du concept de vulnerabilité génétique

http://www.google.com/search? sourceid =navclientagfn =Iaie=UTF-8arlz=IT4GFREviVN323VN323aq=lapsychose+puerperale+un+modele+du

+concept+de+vulnerabilite+genetique Pp2-13

  1. 11.                        Hardy-Baylé M.C (1986), Troubles psychiques liés à la puerperalité, Enseigenment de la psychiatrie. Doin éditeur. Pp 161-166.
  2. 12.                        Sutter-Dallay. L ; Dallay.D ( 2009), troubles psychiques et periode perinatale

http://www,syngof/pages/fmc/troubles-psy.html. Pp 1-13

  1. 13.                           Tài liệu trên mạng ( 2009). Les troubles psychiques de la puerperalite

http://frankpaillard.chez-alice.fr/infirmier-psychiatre-troubles-psychiques-puerperalie.htm Pp 1-10

  1. 14.                         Tài liệu trên mạng ( 2006): Les causes de la depression

http://www.amh.net//About_Ađiction _Mental_Health/mental_Health_Information/Depr...

 

 

 

Phụ lục

Phụ lục 1: Mẫu bệnh án nghiên cứu

        Bộ Y Tế                   mẫu đăng ký bệnh nhân nghiên cứu

bệnh viện tâm thần TW I                                                                 STT :

bệnh án

1. Thủ tục hành chính.

    Họ và tên:                                     Tuổi:         Giới:           Dân tộc:         Con:

Nghề nghiệp

Nơi sinh sống

Văn hoá

Nông dân

 

Nông thôn

 

Tiểu học

 

Công nhân

 

Thành phố

 

THCS

 

Viên chức

 

Miền núi

 

THPT

 

Sinh viên

 

Ven biển

 

Đại học -Cao đẳng

 

Khác

 

 

 

Trên đại học

 

Địa chỉ: 

Ngày vào viện:                                      Vào viện lần thứ:

Điều trị tại khoa:                                  Bệnh viện TTTWƯ 1

Số hồ sơ l­u trữ:                                    Lý do vào viện:

2. Bệnh sử

Bị bệnh lần thứ  nhất ngày      tháng        năm

2.1 Tính chất khởi phát bệnh, thời gian mắc bệnh và số lần nằm viện

Khởi phát

Thời gian mắc bệnh

Số lần nằm viện

Cấp ( < 1 tuần)

 

Dư­­ới 6 tháng

 

 

Bán cấp (>1 tuần -<1 tháng

 

6 tháng đến  = 2 năm

 

 

Từ từ ( > 1 tháng)

 

 > 2 đến  = 5 năm

 

 

 

 

 > 5 đến = 10 năm

 

 

 

 

> 10 năm

 

 

Chẩn đoán bệnh lần trước:

                                     Chẩn đoán 

Số lần phát bệnh                    

Thời gian mắc bệnh

1 lần

 

Từ 2 – 3 lần

 

 

  + Nhân cách tiền bệnh lý

STT

Kiểu nhân cách

Không

1

Nóng nảy

 

 

2

Bình thản

 

 

3

Hăng hái, sôi nổi

 

 

4

ưu tư

 

 

 

2.2 Các yếu tố thuận lợi ảnh h­­ưởng đến sự phát bệnh

+ Tuổi khởi phát, tháng mắc bệnh trong năm

      Tháng

Tuổi

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

<16

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

16-25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

26-35

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

36-45

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Các yếu tố về hôn nhân, gia đình

STT

Bệnh nhân trong hoàn cảnh

Không

1

Có gia đình bình thường

 

 

2

Ly hôn

 

 

3

Ly thân

 

 

4

Tình yêu tan vỡ

 

 

5

Vợ chồng không hoà thuận

 

 

6

Bạo lực gia đình

 

 

7

Có thai ngoài ý muốnC

 

 

8

Độc thân nhưng có con

 

 

+ Các yếu tố về cơ thể

STT

Các yếu tố thuận lợi

Không

1

Mới mắc bệnh nào đó, mắc bệnh nan y, bệnh tim mạch, bệnh tuyến giáp...

 

 

2

Các thay đổi về cơ thể:

Mất máu nhiều

Gầy yếu, sút cân

 

…….

 

…….

3

Sau tai nạn, phẫu thuật

 

 

4

Thức đêm nhiều sau đẻ:

Do không ngủ được

Do làm việc quá sức

                            Do con quấy khóc

      Do căng sữa gây đau tức

Do mệt mỏi, ăn kém

 

.......

.......

.......

........

.......

 

.......

........

........

........

........

5

Do các sang chấn tâm lý mạnh:

 

 

 

6

Lần đẻ trước có bị rối loạn tâm thần không?

 

 

 

+ Các yếu tố về kinh tế, văn hoá,  xã hội

STT

Các yếu tố thuận lợi

Không

1

Các vấn đề liên quan về kinh tế

 

 

2

Các vấn đề liên quan về văn hoá

 

 

3

Các vấn đề liên quan về xã hội: Mất việc làm sau đẻ, Sống trong gia đình hoặc cơ quan luôn căng thẳng, bất hoà

 

 

4

Thư­­ờng thay đổi nơi làm việc

 

 

5

Ô nhiễm môi trư­­ờng ( n­­ước, chất độc, tiếng ồn trong nhà máy, bụi đ­­ường phố nặng)

 

 

 

3. Tiền sử

STT

                                         Quan hệ

Tình trạng bệnh

Quan hệ cấp 1

Quan hệ cấp

2

1

Trầm cảm

 

 

2

Rối loạn cảm xúc l­­ưỡng cực

 

 

3

Tâm thần phân liệt

 

 

 

4. Khám bệnh

4.1 Nội khoa:

Toàn thân:    Thể trạng:                   Da, niêm mạc:

              Mạch:     l/p    Nhiệt độ:         Huyết áp:           mmHg

 Bộ phận      Tim:                                      Phổi:

Tiêu hoá:                               Nội tiết:                         Đáy mắt:

Các bộ phận khác:

4.2 Khám thần kinh:

 Dây thần kinh sọ não:  Không có tổn thư­­ơng liệt khu trú

Vận động tứ chiV:          Bình thư­­ờng  

TrưT­ơng lực cơ:             Bình th­­ường

Cảm giácC:                    Nông (sâus) bình thư­­ờng.

Phản xạP:                      Không có phản xạ bệnh lý

4.3 Khám tâm thần: 

4.3.1 Biểu hiện chung: 

4.3.2  Ý thức:

Định h­­ướng về thời gian:                            Định h­­ướng về không gian: 

Định h­­ướng bản thân:

4.3.3 Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu

+  Các biểu hiện rối loạn cảm xúc

                   Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

                  Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

F53.0

F53.1

F53.0

   F53.1

Buồn rầu, khí sắc giảm

 

 

Giảm sở thích cũ

 

 

Bi quan, chán nản

 

 

Giảm nghị lực

 

 

Đau khổ, thất vọng

 

 

Hoảng sợ, căng thẳng

 

 

Khóc lóc

 

 

Khí sắc tăng, vui vẻ

 

 

Mệt mỏi

 

 

Tăng sinh lực

 

 

 

+ Các biểu hiện về rối loạn t­ duy, rối loạn tri giác.

                 Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

                    Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

F53.0

F53.1

F53.0

   F53.1

Chậm chạp, ít nói

 

 

Hoang tưởng bị xâm nhập

 

 

Không nói

 

 

Hoang tưởng bị tội

 

 

Than vãn, kể lể

 

 

Hoang tưởng nghi bệnh

 

 

Ý định tự  sát

 

 

Hoang tưởng tự buộc tội

 

 

ảo giác

 

 

Hoang tưởng ghen tuông

 

 

Hoang tưởng bị hại

 

 

Hoang tưởng tự cao

 

 

Hoang tưởng bị đầu độc

 

 

Hoang tưởng phủ định

 

 

 

+ Các biểu hiện về rối loạn hành vi

                  Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

                     Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

F53.0

F53.1

F53.0

   F53.1

Giảm vận động, nằm nhiều

 

 

Muốn giết chồng

 

 

Bất động

 

 

Không chăm sóc con

 

 

Bồn chồn, đứng ngồi không yên

 

 

Ghét con

 

 

Từ chối ăn

 

 

Muốn giết con

 

 

Kích động

 

 

Gây đau trẻ khác

 

 

Tấn công

 

 

Hành vi tự sát

 

 

Ghét chồng

 

 

Xung động tự sát

 

 

 

+ Các biểu hiện về trí nhớ

                  Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

                     Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

F53.0

F53.1

F53.0

   F53.1

Trí nhớ giảm, hay quên

 

 

Tăng nhớ

 

 

Mất nhớ

 

 

 

 

 

+ Các triệu chứng cơ thể

                  Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

                     Nhóm bệnh

Triệu chứng

Nhóm bệnh

F53.0

F53.1

F53.0

   F53.1

Giảm trọng lượng cơ thể

 

 

Giảm tình dục

 

 

Rối loạn kinh nguyệt

 

 

Tăng tình dục

 

 

Mất kinh

 

 

 

 

 

 

5. Các triệu chứng và hội chứng chính:

6. Các ph­­ương pháp kiểm tra khác

6.1 Thang Beck

Mức độ

Thang

Nhẹ

Trung bình

Nặng

n

%

n

%

n

%

Beck

 

 

 

 

 

 

Zung

 

 

 

 

 

 

6.2 Máu:  Hồng cầu:     T/l.Bạch cầu:    G/l (TT:     %. L:    % A:   % M:   %  )

Huyết sắc tốH:      g/l. SGOT     u/l.SGPT      u/l.Protit:    g/l. Đư­­ờng     mmol /l

6.3  X quang:

7. Chẩn đoán:

STT

                                            Bệnh nhân nghiên cứu

Thể bệnh

Mã bệnh

Chẩn đoán

1

Rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ liên quan đến sinh đẻ

F 53.0

 

2

Rối loạn tâm thần và hành vi nhẹ liên quan đến sinh đẻ

F 53.1

 

 

8. Chẩn đoán phân biệt:

         Ý kiến xác nhận của                                     Ngày        tháng        năm

Cơ quan, cơ sở quản lý bệnh nhân                               Người làm bệnh án

 

Phụ lục 2:  Nghiệm pháp Beck

 

Họ và tên: ----------------- Tuổi----------------  Văn hoá:----------------

Nghề nghiệp -------------- Căn bệnh ----------------------------------------------------

   Trong bảng này có 21 đề mục đánh số từ 1 đến 21, ở mỗi đề mục có ghi một số câu phát biểu. Bạn hãy đọc cẩn thận tất cả các câu và chọn câu nào mô tả gần giống nhất với tình trạng mà bạn cảm thấy hai ba ngày nay. Bạn hãy chắc chắn là đã đọc tất cả các câu trước khi lựa chọn. Bạn hãy đánh dấu chéo ở đầu câu của mỗi đề mục mà bạn đã chọn (xin đừng bỏ sót đề mục nào).

1-0. Tôi không cảm thấy buồn

   1.Tôi thấy chán hoặc buồn

   2. Tôi luôn luôn chán hoặc buồn và tôi không thể thôi được.  

   2.Tôi buồn và bất hạnh đến mức hoàn toàn đau khổ

   3.Tôi buồn và khổ sở đến mức không thể chịu được.

2-0. Tôi hoàn toàn không bi quan và nản lòng về tương lai

   1.Tôi cảm thấy nản lòng về tương lai

   2.Tôi không có gì để mong đợi một cách vui thích

   2.Tôi cảm thấy sẽ không bao giờ khắc phục được những điều phiền muộn của tôi

   3.Tôi cảm thấy tương lai tuyệt vọng và tình hình không thể cải thiện được

3-0. Tôi không cảm thấy như bị thất bại

   1.Tôi cảm thấy đã thất bại hơn người trung bình

   2.Tôi cảm thấy đã hoàn thảnhất ít điều đáng giá hoặc có chút ý nghĩa

   2.Nhìn lại cuộc đời, tôi, tất cả nhhững gì tôi có thể thấy chỉ là một loạt thất bại.

   3.Tôi tự cảm thấy hoàn toàn thất bại trong vai trò của tôi (bố, mẹ, vợ, chồng)

4-0. Tôi hoàn toàn không bất mãn

   1.Tôi luôn luôn cảm thấy buồn

   1.Tôi không thích thú những gì tôi vẫn ưa thích trước đây

   2.Tôi không thoả mãn về bất kỳ cái gì nữa

   3.Tôi không hài lòng với mọi cái

5-0. Tôi hoàn toàn không cảm thấy có tội

   1.Phần lớn thời gian tôi cảm thấy mình tồi hoặc không xứng đáng

   2.Tôi cảm thấy hoàn toàn có tội

   2.Giờ đây, tôi luôn cảm thấy trên thực tế mình tồi hoặc không xứng đáng

   3.Tôi cảm thấy như là tôi rất toòi hoặc vô dụng

6-0. Tôi không cảm thấy bị trừng phạt

   1.Tôi cảm thấy một cái gì xấu có thể đến với tôi

   2.Tôi cảm thấy bị trừng phạt hay sẽ bị trừng phạt

   2.Tôi cảm thấy đang bị trừng phạt

   3.Tôi muốn bị trừng phạt

7-0. Tôi không cảm thấy thất vọng với bản thân

   1.Tôi thất vọng với bản thân

   1.Tôi không thích bản thân

   2.Tôi ghê tởm bản thân

   3.Tôi căm thù bản thân.

8-0. Tôi không tự cảm thấy một chút nào xấu hơn bất kể ai

   1.Tôi tự chê mình về sự yếu đuối và lỗi lầm của bản thân

   2.Tôi khiển trách mình vì những lỗi lầm của bản thân

   3.Tôi khiển trách mình về mội điều xấu xảy đến.

9-0. Tôi không có bất kỳ ý nghĩ gì làm tổn hại bản thân

1.Tôi có những ý nghĩ làm tổn hại bản thân nhưng tôi thường không thực hiện

2.Tôi cảm thấy giá mà tôi chết đi thì hơn

2.Tôi cảm thấy gia đình tôi ắt là tốt lên nếu tôi chết

2.Tôi có ý định rõ ràng để tự sát

3.Tôi tự sát nếu tôi có thể

10-0. Hiện nay tôi không dễ bị kích thích hơn trước

    1.Hiện nay tôi khóc nhiều hơn trước kia

    2.Hiện nay tôi luôn luôn khóc, tôi không thể dừng được

    3.Tôi thường vẫn khóc đượcnhưng hiện nay tôi không thể khóc được chút nào dù tôi muốn khóc

11-0. Hiện nay tôi không dễ bị kích thích hơn trước

     1.Tôi bực mình và phát cáu dễ dàng hơn trước

     2.Tôi luôn luôn cảm thấy dễ phát cáu

     3.Tôi không cáu chút nào về những việc trước kia tôi thường phát cáu

12-0.Tôi không mất sự quan tâm đến người khác

      1.Hiện nay tôi ít quan tâm đến người khác hơn trước.

      2.Tôi đã mất rất nhiều sự quan tâm đến người khác và ít có cảm tình với họ

      3.Tôi hoàn toàn không có quan tâm đến người khác và không cần họ chút nào

13-0. Tôi quyết định cũng tốt như trước

      1.Hiện nay tôi ít tin chắc vào bản thân và cố gắng trì hoãn việc quyết định

      2.Không có sự giúp đỡ, tôi không thể quyết định gì được nữa

      3.Tôi không thể quyết định chút nào

14-0. Tôi không cảm thấy tôi xấu hơn trước chút nào

      1.Tôi buồn phiền vì tôi trông như già hoặc không hấp dẫn

      2.Tôi cảm thấy có những thay đổi cố định trong diện mạo làm cho tôi có vẻ không hấp dẫn

      3.Tôi cảm thấy tôi có vẻ xấu xí hoặc ghê tởm

 15-0. Tôi có thể làm việc tốt như trước

       1.Tôi phải đặc biệt cố gắng để có thể khởi động làm một việc gì

       1.Tôi không làm việc tốt như trước

       2.Tôi phải cố gắng hết sức để làm một việc gì

       3.Tôi hoàn toàn không thể làm một việc gì  cả

16-0. Tôi có thể ngủ tốt hơn trước

        1.Tôi ngủ dậy buổi sáng mệt hơn trước

         2.Tôi thức dậy 1-2 giờ sớm hơn trước và thấy khó ngủ lại

         3.Hàng ngày tôi dậy sớm và không thể ngủ hơn 5 tiếng

17-0. Tôi không mệt hơn trước chút nào

         1.Tôi dễ mệt hơn trước

         2.Làm bất cứ việc gì, tôi cũng mệt

         3.Làm bất cứ việc gì tôi cũng quá mệt

18-0.Sự ngon miệng của tôi không kém hơn trước

          1.Sự ngon miệng của tôi không tốt chút nào

          2.Hiện nay sự ngon miệng của tôi kém rất nhiều

          3.Tôi không còn một chút nào ngon miệng

19-0. Gần đây tôi không sút cân chút nào

          1.Tôi bị sút cân trên 2 kg

          2.Tôi bị sút cân trên 4 kg

          3.Tôi bị sút cân trên 6 kg

20-0. Tôi không lo lắng về sức khoẻ hơn trước

          1.Tôi lo lắng về những đau đớn hoặc khó chịu ở dạ dày hoặc táo bón và những cảm giác của cơ thể

          2.Tôi quá lo lắng về tôi cảm thấy thế nào và điều gì tôi cảm thấy đến nỗi tôi rất khó suy nghĩ gì thêm

          3.Tôi hoàn toàn bị thu hút vào những cảm giác của tôi

 21-0. Tôi không nhận thấy gần đây có những thay đổi trong thích thú tình dục

          1.Tôi ít thích thú tình dục hơn trước

          2.Hiện nay tôi quá ít thích thú tình dục

         3.Tôi hoàn toàn mất thích thú tình dục

 

Điều trị ảo thanh kéo dai

 

Bộ y tế

Bệnh viện tâm thần trung ư­ơng 1

-------------------------

 

 

BÁO CÁO

đề tài khoa học cấp cơ sở     

 

 

 

Bước đầu Đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ

trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

 

 

 

                                                 

                                                      Chủ nhiệm đề tài:TS Tô Thanh Phư­ơng

                                                    

 

Hà nội 2013

 

Đặt vấn đề

     Việc điều trị tâm thần phân liệt gặp rất nhiều khó khăn do đáp ứng kém với thuốc nhất là các thuốc an thần kinh ( ATK) cổ điển, số bệnh nhân (BN) kháng thuốc ngay cả với các thuốc ATK thế hệ mới cũng ngày càng nhiều. Biểu hiện thường gặp nhất của bệnh tâm thần phân liệt (TTPL) Paranoid kháng thuốc là ảo thanh (AT) kéo dài. AT kéo dài đã gây rất nhiều khó khăn cho điều trị, khiến cho bệnh không ổn định và người bệnh có thể kích động nguy hiểm bất cứ lúc nào do AT chi phối.

     Kích thích từ xuyên sọ (Stimulation Magnétique Transcranienne S -  SMT hoặc TMS (Anh)) là một phương pháp chữa bệnh mới . SMT có tác dụng tốt trong hỗ trợ điều trị nhiều bệnh tâm thần, trong đó có có tác dụng tốt đối với vùng tri giác lời nói ở vỏ não, do vậy có tác dụng rất tốt điều trị ảo thanh kéo dài.

      Hiện nay ở Việt Nam  chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này một cách có hệ thống. Việc nghiên cứu áp dụng SMT sọ kết hợp với thuốc ATK điều trị ảo thanh kéo dài giúp cho bệnh ổn định là rất cần thiết. Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Bước đầu đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid ”

Nhằm các mục tiêu sau:

-         Sơ bộ đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

-         Xác định độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

Chương 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1: Mẫu nghiên cứu: Chúng tôi chọn 21 BNC - TTPL paranoid có AT kéo dài   

được điêù trị tại các khoa của BVTTTW1 năm 2012- 2013

2.1.2 Phân nhóm bệnh nhân nghiên cứu  

Trước điều trị kích thích từ  < N1>: BN đang dùng thuốc ATK nhưng không hết AT

Sau điều trị kích thích từ  <N2>: Kết hợp SMT với ATK hiện BN vẫn đang sử dụng và giữ nguyên liều điều trị.

2.4.5 Phương pháp nghiên cứu lâm sàng:Nghiên cứu tiến cứu

 2.5  Áp dụng điều trị bằng máy kích thích từ xuyên sọ

2.5.1 Vị trí kích thích:  Kích thích vùng thái d­ương - đỉnh phải

2.5.2 Tần số và thời gian kích thích:Theo một số tác giả [2].[3],[5],[11], tần số được áp dụng điều trị AT kéo dài là >20 Hez, thời gian 35 phút / buổi [2].[3],[5],[8]. Thời gian nghỉ giữa các đợt xung điện là 5 giây [6].

Tần số và thời gian kích thích áp dụng trong nghiên cứu:Theo Roland Dardennes; Bruno Etain; Alexandra Pham-Scottes [2], khi kích thích vùng thái dương đỉnh phải để điều trị AT kéo dài trong thời gian 10 buổi là AT đã giảm.  Do vậy chúng tôi vận dụng vào từng nấc 10 ngày để điều trị kích thích từ phối hợp với thuốc ATK.

        Các bước được áp dụng theo các giai đoạn sau :

Giai đoạn 1:  Khởi đầu điều trị với tần số 15 Hez, thời gian 15 phút. Sau 10 ngày mà AT giảm thì chúng tôi vẫn duy trì liều điều trị với tần số naỳ đến khi hết AT, nếu không hết AT thì chuyển sang giai đoạn 2.

Giai đoạn 2: Áp dụng tần số 25 Hez thời gian 20 phút.  Sau 10 ngày mà AT giảm thì chúng tôi vẫn duy trì liều điều trị với tần số naỳ đến khi hết AT, nếu không hết thì chuyển sang giai đoạn 3.

Giai đoạn 3: Áp dụng tần số 30 Hez thời gian 20 phút.  Sau 10 ngày nếu AT không hết thì dừng điều trị, coi như BN không đáp ứng với điều trị bằng kích thích từ .

Chương 3

kết quả nghiên cứu k

3.1 Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

   Lứa tuổi từ 26-35 chiếm tỷ lệ cao nhất ( 38,09 % ), thấp nhất là lứa tuổi 46-50 chỉ chiếm 14,29%.

 

    BN n? chiếm tỷ lệ cao có thể vì ch­ưa xây dựng gia đình nên không muốn cho con đến bệnh viện tâm thần điều trị vì sợ mang tiếng, đến khi bệnh nặng, AT kéo dài thì mới cho đi viện

3.2     Đặc điểm ảo thanh ở bệnh nhân nghiên cứu

Bảng 3.6: Các mức độ  của ảo thanh theo tiêu chuẩn thang Panss

Mức độ

ảo thanh

                         BNNC  (Bệnh nhân nghiên cứuB)  

Biểu hiện lâm sàng

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

6

AT liên tục, chi phối rõ rệt tư duy, hành vi

9

42,85

5

AT thường xuyên có xu hướng ảnh hưởng đến tư duy, hành vi

8

38,09

4

AT thường xuyên, không liên tục, hành vi bị chi phối nhẹ

2

9,53

3

AT có nội dung rõ ràng, không thường xuyên, không chi phối tư duy, hành vi

2

9,53

 

Tổng số

21

100,00

éa số BN vào viện trong tình trạng t­ư duy và hành vi bị chi phối mạnh bởi AT. Chính sự chi phối mạnh này đã dẫn BN đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và những ng­ười xung quanh cho nên gia đình buộc phải đ­ưa BN vào viện.

Bảng 3.7: Các loại  ảo thanh gặp trong nghiên cứu

                                                BNNC    

Các biểu hiện

Số lượng

n

Tỷ lệ

%

Tiếng nói trong đầu xui khiến bệnh nhân

8

38,09

Tiếng người trong đầu đe dọa bệnh nhân

3

14,25

Tiếng nói trong đầu bình luận về bệnh nhân

1

4,76

Tiếng nói trong đầu khen, chê bệnh nhân

2

9,53

Tiêng nói trong đầu nói chuyện với bệnh nhân

4

19,09

Tiếng chim, tiếng ve kêu, tiếng giun dế

2

9,53

Tiếng 0 0, tiếng inh bên tai

1

4,76

Tổng số

21

100,00

AT xui khiến: bắt BN phải thực hiện hành vi nào đó khiến họ rất khó chịu, căng thẳng hoảng sợ., 1 BN đã 2 lần lao đầu vào ô tô, 3 BN tự sát

AT đe dọa A: dọa giết cả nhà, giết con hoặc bắt đi tù...cho nên BN th­ường chạy trốn khi thấy có ng­ười lạ đến vì sợ công an đến bắt...

Bảng 3.8  Mức độ và thời gian mắc ảo thanh ở BNNC theo thang Panss

              Mức độ               

 

Thời gian

 

n

M?c d?

6

M?c d?

5

M?c d?

4

M?c d?

3

M?c d?

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

< 6 tháng

1

1

100,0

0

 

0

 

0

 

0

 

6 th - < 2 năm

5

4

80,0

1

20,0

0

 

0

 

0

 

Từ  2 -< 5 năm

10

4

40,0

5

50,0

1

10,0

0

 

0

 

Từ  5 -10 năm

5

0

 

2

40,0

1

20,0

2

40,0

0

 

Tổng số

21

9

42,85

8

38,09

2

9,53

2

9,53

0

 

Mức độ 6M, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm có thời gian mắc bệnh < 6 th- < 2 năm, sau điều trị thì nhóm có mức độ 5 và 6 giảm mạnh nhất có thể là do thời gian mắc bệnh ngắn hơn

3.3     Đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị

3.3.1 Thời gian kích thích từ và tần số trong nghiên cứu

Thời gian kích thích từ 15 phút và tần số 15Hez (10 ngày 1)

Bảng 3.9  Mức độ thuyên giảm của ảo thanh theo thang Panss

STT

                     BNNC

 Bi?u hi?n

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

AT liên tục, chi phối rõ rệt

9

42,85

2

 9,53

2

AT thường xuyên

8

38,09

9

42,85

3

AT thường xuyên, không liên tục

2

9,53

4

19,09

4

AT không thường xuyên,

2

9,53

2

  9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

4

19,09

 

Tổng số

21

100,0

21

100,0

 

  Sau 10 ngày KTT với tần số 15 Hez và thời gian 15 phút thì ảo thanh liên tục chi phối rõ rệt hành vi của BN thuyên giảm nhiều nhất.

    Kết quả sau 10 ngày KTT với tần số và thời gian trên đã có 4 BN hết ảo thanh.

Biểu đồ 3:  o thanh trước và sau KTT < 15HZ và 15 phút >

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 25 Hez(10 ngày 1)

Bảng 3.10 Mức độ thuyên giảm của ảo thanh

STT

                     BNNC

 Bi?u hi?n

N1=17

N2=17

n

%

n

%

1

AT liên tục, chi phối rõ rệt hành vi

2

11,76

1

5,88

2

AT thường xuyên

9

52,94

6

35,29

3

AT thường xuyên, không liên tục

4

23,53

3

17,65

4

AT không thường xuyên,

2

11,76

5

29,41

5

Không có ảo thanh

0

0

2

11,76

 

Tổng số

17

100,0

17

100,0

 

     Sau 10 ngày KTT với tần số 25 Hez với thời gian 20 phút, các mức độ ảo thanh  đều có sự thuyên giảm từ mức 6 giảm đến mức 3,( theo thang PANSS gồm 7 mức độ ).

     Có 2 BN giảm hết ảo thanh  chiếm 11,76% .

 

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 30 Hez (10 ngày)

Bảng 3.11 Mức độ thuyên giảm của ảo thanh

STT

                     BNNC

 Bi?u hi?n

N1=15

N2=15

n

%

n

%

1

AT liên tục, chi phối rõ rệt

1

6,67

0

0

2

AT thường xuyên

6

40,0

4

26.67

3

AT thường xuyên, không liên tục

3

20,0

4

26,67

4

AT không thường xuyên,

5

33,33

2

13,33

5

Không có ảo thanh

0

0

5

33,33

 

Tổng số

15

100,0

15

100,0

 

     Trong số 15 BN tiếp tục KTT với tần số 30 Hez và thời gian 20 phút, đã có 5 BN hết ảo thanh, chiếm 33,33 %.

3.4                                                                                                                                                                                                                                                                                                              Đánh giá về hiệu quả của kích thích từ

Bảng 3.12  Mức độ thuyên giảm sau kích thích từ theo thang Panzz

              ảo thanh              

 

Nhóm

 

n

M?c d?

6

M?c d?

5

M?c d?

4

M?c d?

3

M?c d?

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

N1

21

9

42,85

8

38,09

2

9,53

2

9,53

0

0

N2

21

0

0

4

19.09

4

19,09

2

9,53

11

52,38

 

      Sau đợt điều trị kích thích từ,  có 11 BN hết ảo thanh chiếm 52,33%, số BN có ảo thanh ở mức độ 5 cìn  chiếm 19,09 %, ảo thanh còn xuất hiện nhiều lần trong ngày. Trước khi KTT, có 9BN có ảo thanh xuất hiện liên tục chi phối rõ rệt hành vi và tư duy của BN khiến họ rất khó chịu. Sau KTT không còn BN nào ở mức 6.

      Sau đợt KTT, trong tổng số 21 BN thì còn 4 BN ảo thanh vẫn còn xuất hiện nhiều lần trong ngày (mức 5 m), chiếm 19,09.

Biểu đồ 4  : Hiệu quả Kích thích tù

 

 

3.4.2  Đánh giá về tần số và thời gian kích thích từ

Bảng 3.13 Đánh giá hiệu quả về thời gian và tần số sau kích thích từ

              ảo thanh              

 

Nhóm

 

n

M?c d?

6

M?c d?

5

M?c d?

4

M?c d?

3

M?c d?

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Trước kích thích từ

21

9

42,85

8

38,09

2

9,53

2

9,53

0

 

Tần số 15 HZ -15 phút

21

2

9,53

9

42,85

4

19,09

2

9,53

4

19,09

Tần số 25 HZ -20 phút

17

1

5,88

6

35,29

3

17,65

5

29,41

2

11,76

Tần số 30 HZ -20 phút

15

0

0

4

26,67

4

26,67

2

13,33

5

33,33

  

  KTT  với tần số 30 Hez có tỷ lệ BN hết ảo thanh cao nhất ( 33,33% )

Biểu đồ 5: Hiệu quả của kích thích từ với các loại tần số

 

 

 

3.5 Mức độ thuyên giảm

Bảng 3.14 Các biểu hiện của ảo thanh trước và sau kích thích từ

STT

                     BNNC

Các biCu hi?n

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Tiếng nói trong đầu xui khiến BN

8

38,09

2

9,53

2

Tiếng nói trong đầu đe dọa BN

3

14,25

0

0

3

Tiếng nói trong đầu bình luận về BN

1

4,76

1

4,76

4

Tiếng nói trong đầu khen, chê BN

2

9,53

2

9,53

5

Tiêng nói trong đầu nói chuyện với BN

4

19,09

2

9,53

6

Tiếng chim, tiếng ve kêu, tiếng giun dế

2

9,53

2

9,53

7

Tiếng 0 0, tiếng inh bên tai

1

4,76

1

4,76

8

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,

21

100,0

   Đa số các biểu hiện của ảo thanh đều thuyên giảm, Tuy nhiên có 2 dạng ảo thanh là  ảo thanh bình phẩm và ảo thanh tiếng inh bên tai là không giảm.

Bảng 3.15  Tần xuất xuát hiện của ảo thanh trước và  sau kích thích từ

STT

                     BNNC

Số lần xuất hiện

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Liên tục cả ngày

9

42,85

0

0

2

Nhiều lần trong ngày

8

38,09

4

19,09

3

Khoảng 4-5 lần / ngày

4

19,09

4

19.08

4

Vài lần trong tuần

0

0

2

9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,

21

100,

     

    ảo thanh xuất hiện liên tục trong ngày thuyên giảm nhiều nhất. Sự thuyên giảm 

theo xu hướng từ liên tục cả ngày đến  nhiều lần trong ngày đến 4-5 lần / ngày và đến   vài lần trong tuần.  ảo thanh liên tục trong ngày khiến BN rất khó chịu .

 Biểu đồ 6: Mức độ thuyên giảm sau KTT

Bảng 3.16  Mức độ chi phối hành vi của  ảo thanh trước và sau kích thích từ

STT

                     BNNC

ả¶ thanh

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Chi phối rõ rệt tư  duy, hành vi

9

42,85

0

0

2

Chi phối nhiều tư  duy, hành vi

8

38,09

4

19,09

3

Chi phối nhẹ tư  duy, hành vi

2

9,53

4

19,09

4

Không chi phối tư  duy, hành vi

2

9,53

2

9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,0

21

100,0

 

   ảo thanh chi phối rõ rệt tư duy, hành vi thuyên giảm nhiều nhất. ảo thanh chi phối

thuyên giảm từ chi phối nhiều đến không chi phối hành vi và tư duy của BN

Biểu đồ7: Mức độ chi phối hành vi của ảo thanh trước và sau KTT

 

3.5                                                                                                                                                                                                                                                                                                            Liên quan giữa mức độ thuyên giảm của ảo thanh với kích thích từL

Bảng 3.17. Liên quan giữa thời gian mắc ảo thanh với KTT

              o thanh              

 

Nhóm

 

n

M?c d?

6

M?c d?

5

M?c d?

4

M?c d?

3

M?c d?

0

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

< 6 tháng

1

0

 

0

0

0

 

0

 

1

100

6 th - < 2 năm

5

0

 

1

20,0

0

 

0

 

4

80,0

Từ  2 -< 5 năm

10

0

0,0

2

20,0

3

30,0

1

10,0

4

40,0

Từ  5 -10 năm

5

0

0,0

1

20,0

1

20,0

1

20,0

2

40,0

Tổng số

21

0

0,0

4

19,09

4

19,09

2

9,53

11

52,38

 

     Có 1 BN có thời gian mắc bệnh < 6 tháng đã giảm hết ảo thanh. Tiếp đến là nhóm BN có thời gian mắc bệnh từ  6 thang đến < 2 năm .Thuyên giảm ít nhất là nhóm có

thời gian mắc bệnh từ 5- 10 năm.  Như  vậy, thời gian mắc ảo thanh càng ngắn thì

hiệu quả điều trị càng cao

 Biểu đồ 8: Thời gian và mức độ ảo thanh trước và sau KTT

 

Bảng 3.18. Liên quan giữa mức độ nặng của ảo thanh với kích thích từ

STT

                     BNNC

ả¶ thanh

N1=21

N2=21

n

%

n

%

1

Mức độ 6

9

42,85

0

0, 0

2

Mức độ 5

8

38,09

4

19,09

3

Mức độ 4

2

9,53

4

19,09

4

Mức độ 3

2

9,53

2

9,53

5

Không có ảo thanh

0

0

11

52,38

 

Tổng số

21

100,0

21

100,0

 

    Mức 6 có 9 BN (42,85 % ), sau KTT  không còn  BN nào. Các mức độ thuyên giảm theo hướng từ nặng đến nhẹ

 

 

3.6                                                                                                                                                                                                                                                                                                            Đánh giá §ộ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị

ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

3.3.3 Đánh giá về các tác dụng không mong muốn

Bảng 3.19   Tác dụng không mong muốn về tim mạch

Tác dụng phụ

 

Tần số

Số

Lượng

Mạch nhanh

Mạch chậm

Loạn nhịp

H.A hạ

H.A tăng

Khác

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 HZ

12

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 25 HZ

11

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 30 HZ

10

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tổng số

33

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

     Toàn bộ 21 BN đều thấy rất dễ chịu ngay lần KTT đầu tiên, các lần tiếp sau cũng đều thấy rất dễ chịu và thoải mái, cảm thấy nhẹ nhõm hẳn đầu óc, bớt nghĩ lung tung, đêm ngủ ngon giấc hơn. Không thấy BN nào có biểu hiện khó chịu như đau vùng trước tim, mạch và huyết áp vẫn bình thường sau mỗi buổi KTT

Bảng 3.20   Tác dụng không mong muốn về thần kinh

Tác dụng phụ

 

Tần số

Số

lần

kích

thích

Choáng váng

Buồn nôn

Nôn

Động kinh

Co

giật

Biến đổi điện não

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 HZ

12

1

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 25 HZ

11

0

 

1

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 30 HZ

10

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tổng số

33

1

 

1

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Không có BN nào có tác dụng không mong muốn về thần kinh

Bảng 3.21  Tác dụng không mong muốn khác

Tác dụng phụ

 

Tần số

Số

Lượng

Đau đầu

Xưng đỏ

Đau rát

Khó chịu

Bí đái

Chướng bụng

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

n

%

Tần số 15 HZ

12

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 25 HZ

11

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tần số 30 HZ

10

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Tổng số

33

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

0

 

Không có BN nào có các tác dụng không mong muốn như ở bảng trên

 

Kết luận

  1. 1.     Một số đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 

- Số BN nữ  có ảo thanh kéo dài chiếm tỷ lệ 71,43%,  nam chiếm 28,57%.

 - 26-35 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (38,09 % ), thấp nhất là  46-50 (14,29%). 

  1. 2.     Đánh giá hiệu quả của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị ảo

thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể paranoid

2.1 Đánh giá về tần số và thời gian kích thích từ

Thời gian kích thích từ 15 phút và tần số 15Hez(10 ngày 1)

-  Ngay sau lần kích thích từ đầu tiên, tất cả BN đều thấy dễ chịu và thoải mái hơn.

- ảo thanh m?c 6 thuyên giảm từ  42,85% xuống còn 9,53 %. Bệnh nhân các mức độ khác cũng có sự  thuyên giảm mạnh

- Có 4 BN hết ảo thanh  .

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 25 Hez(10 ngày 1)

- Cường độ ảo thanh ở  các bệnh nhân này đều giảm so với khi kích thích từ  đợt 1.

 - Aỏ thanh ở các mức độ tiếp tục giảm hơn

 - Có 2 bệnh nhân hết ảo thanh

Thời gian kích thích từ 20 phút và tần số 30 Hez (10 ngày)

- Cường độ ảo thanh ở số BN còn lại cũng giảm hơn nhiều so với đợt 2

- Còn 4 BN vẫn còn ảo thanh xuất hiện nhiều lần trong ngày nhưng cường độ giảm hơn so với trước khi điều trị kích thích từ.

- Kết  thúc quá trình nghiên cứu, có thêm 5 BN nữa hết ảo thanh.. Tổng số 11 bệnh nhân hết ảo thanh (chiếm 52c,38 %).

2.1           Tần xuất xuất hiện xuát hiện của ảo thanh trước và  sau kích thích từ

-  ảo thanh liên tục suốt ngày chiếm tỷ lệ cao nhất ( 42,85%) thuyên giảm rõ rệt

- Tiếp đến là loại ảo thanh nhiều lần trong ngày (38,09% ) giảm nhiều

2.3 Các biểu hiện của ảo thanh trước và sau kích thích từ

- Các biểu hiện tiếng nói trong đầu xui khiến BN, tiếng người trong đầu đe dọa bệnh

nhân có sự thuyên giảm nhiều nhất.

2.4 Mức độ chi phối hành vi của  ảo thanh trước và sau kích thích từ

 - ảo thanh chi phối rõ rệt tư  duy, hành vi (Mức 6M) trước điều trị là 42,85 %, sau điều trị không còn BN nào thuộc nhóm này, như  vậy nhóm này đáp ứng tốt với điều trị kích thích từ.

 - Nhóm ảo thanh bình phẩm, đàm thoại ít đáp ứng với điều trị kích thích từ.

2.5 Thời gian mắc ảo thanh

- Thời gian mắc ảo thanh càng ngắn thì hiệu quả điều trị bằng kích thích từ càng cao, < 6 tháng đến < 2 năm  có tới 80-100% đã hết ảo thanh sau 3 đợt điều trị

- Thời gian mắc bệnh từ  2 năm đến < 5 năm chỉ có 40% hết ảo thanh.

3. Đánh giá độ an toàn của kích thích từ xuyên sọ trong hỗ trợ điều trị

ảo thanh kéo dài ở bệnh nhân tâm thần phân liệt thể Paranoid

Tác dụng không mong muốn về tim mạch: Không BN nào có các tác dụng không mong muốn về tim mạch. Các chỉ số tim, mạch, huyết áp, điện tim đều bình thường

Tác dụng không mong muốn về thần kinh: Chỉ có 1 BN có các tác dụng không mong muốn về thần kinh với biểu hiện buồn nôn trong lần kích thích đầu tiên sau đó lại bình thường. Tất cả các BN khác không có gì đặc biệt, không có biến đổi điện não trước và sau kích thích từ.

Tác dụng không mong muốn khác: Không BN nào có tác dụng không mong muốn khác, tất cả BN đều ăn ngủ, sinh hoạt bình thường, vui vẻ hơn, dễ chịu hơn.

Báo cáo 2 bệnh nhân trầm cảm do nghiện Game và methamphétamine

Báo cáo 2 bệnh nhân trầm cảm do nghiện Game và methamphétamine được điều trị bằng seroquel phối hợp với thuốc chống trầm cảm và an thần kinh

TS. Tô Thanh Ph­ương - BVTTTW1

     Trầm cảm hiện nay là một bệnh thời sự, xã hội càng phát triển thì tỷ lệ trầm cảm càng gia tăng do áp lực cuộc sống đè nặng. Trầm cảm các dạng khác nhau chiếm tới 20% dân số, trầm cảm điển hình chiếm 5% trong số đó. Đa số BN trầm cảm nằm trong khoảng tuổi > 16- <45, đó là độ tuổi lao động vàng

     Hậu quả của trầm cảm để lại rất nặng nề với hoàn toàn mất khả năng lao động, học tập và sáng tạo, nguy hiểm nhất là tỷ lệ tự sát rất cao ( 80% BN trầm cảm có ý định và hành vi tự sát).

   Đã có rất nhiều giả thuyết về nguyên nhân phát sinh bệnh trầm cảm nhưng cho đến nay vẫn chưa khẳng định được đâu là nguyên nhân chính. Hiện nay có nhiều tài liệu nói về các yếu tố thuận lợi phát sinh bệnh trầm cảm như  sau :

Yếu tố di truyền: Tiền sử gia đình có người trầm cảm không có nghĩa là con cái hoặc những thành viên khác của gia đình đều mắc bệnh trầm cảm. Tuy nhiên, người ta thấy tỷ lệ mắc trầm cảm trong những gia đình có người mắc bệnh trầm cảm thường có tỷ lệ cao hơn so với những người không có yếu tố gia đình. Nhiều nghiên cứu về gen cho rằng có thể trầm cảm có yếu tố di truyền, các nghiên cứu về các cặp sinh đôi cho thấy một trong số họ mắc trầm cảm thì 40-50% người kia có nguy cơ bị trầm cảm. Tuy nhiên, các chỉ số này không cao hơn so với các bệnh di truyền khác .

Yếu tố nhân cách : Vấn đề nhân cách cũng như cách ứng xử đối với các vấn đề cũng có thể góp phần làm xuất hiện trầm cảm. Những người có nhân cách yếu, rụt rè, thụ động và ít có chính kiến của mình, hay lo lắng, phụ thuộc quá nhiều vào người khác, yêu cầu quá cao, hay che dấu những tình cảm của mình, ít thổ lộ tâm tư nguyện vọng của mình với người khác...là những người có nguy cơ cao mắc bệnh trầm cảm .

Các yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường : Nhiều bệnh trầm cảm xuất hiện sau các sự kiện phức tạp của cuộc sống như vỡ nợ, thi trượt, học quá căng thẳng mà không có thời gian nghỉ ngơi, thất bại trong tình yêu, nguyện vọng không đạt hoặc phải sống trong môi trường căng thẳng về tâm lý, bạo lực gia đình, tiếng ồn trong nhà máy, ô nhiễm môi trường nặng... Hiện nay nổi lên là vấn đề nghiện Game và nghiện Methamphetamine (ma túy đám) thường gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội

Yếu tố sinh học: Trầm cảm có thể xuất hiện khi khi cơ thể có những thay đổi như: có thai, nhiễm khuẩn hoặc nhiễm vi rút. Những bệnh nhân trầm cảm theo mùa rất nhậy cảm với những thay đổi mùa, bệnh thường xuất hiện vào mùa xuân -hạ, thu-đông do cường độ ánh sáng ban ngày yếu đã làm giảm nồng độ Melatonine trong huyết tương, Melatonine có tác dụng điều hoà khí sắc

      Trầm cảm có thể tự nhiên đến với chúng ta, ngược lại chúng ta cũng có thể tự chuốc lấy trầm cảm vào mình. Khi chúng ta bị trầm cảm mà chúng ta không biết cách chữa và phòng tránh tái phát thì có thể để lại những hậu quả đáng  tiếc.

   Sau đây chúng tôi xin nêu 2 BN tự chuốc bệnh trầm cảm vào mình như  sau:

Bệnh nhân 1

Họ và tên: Hoàng Huy H       Sinh : năm 1992

Địa chỉ:  Thị xã Sông công - Thái nguyên

Điều trị: 1.10.2013

Lý do điều trị:  Trầm cảm sau nghiện  Game Online.

Bệnh sử:

       Bệnh nhân là con thứ 1/2. Tiền sử sản khoa bình thư­ờng. Sự phát triển về thể chất và tâm thần từ nhỏ đến lớn hoàn toàn bình thư­ờng, ít ốm đau. Học hết 12/12, đang là sinh viên năm thứ 2 Đại học CN - Hà Nội. Tính tình hiền lành ngoan ngoãn.

     Bệnh nhân chơi Game Online gần 1 năm nay khiến việc học hành sút kém và phải bỏ giữa chừng do suốt ngày ngồi quán, không có tiền nên đã cắm cả xe máy, về nhà ăn trộm tiền của bố mẹ để chơi Game, thi lại nhiều và sau đó phải bỏ học.

      Đầu tháng 7. 2013, BN bỏ học về nhà. Gia đình thấy bệnh nhân có những biểu hiện khác thư­ờng: mặt buồn rầu, bi quan chán nản xa lánh mọi ngư­ời, lầm lỳ ít nói, dễ cáu gắt, không vừa ý là quát tháo lung tung. Chỉ ở trong nhà và ít khi ra khỏi nhà, không muốn chơi Game nữa. Không muốn và không làm các việc trong gia đình, hay ngồi 1 mình tư­ lự, thấy ai đến là lảng tránh và nhiều lần muốn tự sát, l­ười vệ sinh cá nhân và gia đình thư­ờng xuyên phải nhắc nhở. ăn kém, người gầy sút nhiều, đêm ít ngủ. Sau khi về nhà 1 tháng thì bệnh có xu hướng nặng hơn, khi bố vừa nói động đến là chửi lại, đập phá la hét ầm ĩ, đánh bố mẹ, lao vào tấn công mọi người và gia đình đã phải trói đưa đến BV Thái nguyên điều trị bằng Aminazin 25 mg ngày 4 ống, Haloperridol 5 mg ngày 4 ống, tiêm 2 ngày thì chuyển thuốc uống levomepromazine 25 mg ngày 6 viên, Oxeflu 20 mg ngày 2 viên, sau 2 tuần thì ra viện với chẩn đoán trầm cảm nặng có loạn thần.

    Mấy tháng gần đây BN vẫn uống thuốc đều ngày 3 viên levomepromazine và 2 viên Oxeflu nhưng bệnh vẫn không ổn, thường xuyên kêu buồn chán, vẫn muốn tự sát và hay gây sự  với gia đình.

     Gia đình đưa đến BS công tác tại BVTTTW điều trị.

Tiền sử: Nghiện Game Online gần 1 năm nay

Gia đình: Không ai bị bệnh tâm thần, động kinh

Khám bệnh:

- Nội khoa : BT

- Thần kinh: BT

- Tâm thần:

Biểu hiện chung: Tiếp xúc hạn chế, căng thẳng, hằn học, phải trói đ­ưa vào viện

   ý thức: Không rối loạn

- Tình cảm, cảm xúc:   Khí sắc giảm, nét mặt buồn rầu.

- Tri giác: Không có ảo thanh

- T­ duy :

      + Hình thức: Nhịp chậm.

         + Nội dung: Không có hoang tưởng

- Hành vi :

         + Hoạt động có ý chí: Giảm, không làm đ­ược việc, nhiều lần muốn tự sát.

         + Hoạt động bản năng: ăn kém

         + Bức bối khó chịu trong ng­ười

- Trí nhớ: BT

- Trí năng: Giảm

- Chú ý: Không tập trung vào câu hỏi. Khi đang hỏi thì hay quay sang chỗ khác nghe các bệnh nhân khác nói chuyện.

Các xét nghiệm: đã cho làm các xét nghiệm cơ bản

Tóm tắt triệu chứng và hội chứng

Rối loạn cảm xúc : Không ổn định, dễ bùng nổ cáu gắt, căng thẳng, khí sắc giảm, nét mặt buồn rầu.

Rối loạn t­ư duy : nhịp chậm

Rối loạn hành vi : Lầm lỳ, xa lánh mọi ng­ười không muốn tiếp xúc với ai, thích ngồi 1 mình trong nhà, nằm nhiều, không làm đ­ược gì. ăn kém.

-         Rối loạn trí nhớ: Không tập trung

-         Trắc nghiệm tâm lý : Test Beck  (trầm cảm nặng t)

Phân tích các triệu chứng của trầm cảm ở bệnh nhân này:

A. Các triệu chứng chính:

- Cảm xúc: Khí sắc giảm, buồn rầu

- Giảm hứng thú, không còn muốn chơi Game như trước đó

- Giảm năng lượng, không làm việc, suốt ngày mệt mỏi

B. Các triệu chứng thường gặp:

-.Giảm khả năng tư duy hoặc giảm tập trung, do dự, không quyết đoán.

-  Giảm tự trọng và lòng tự tin

-  Nhìn tương lai ảm đạm, bi quan.

-  Có ý tưởng và hành vi tự sát bất kỳ dạng nào.

-. Rối loạn giấc ngủ bất kỳ dạng nào.

-  Ăn không ngon miệng cùng với sự biến đổi trọng lượng tương ứng.

B. Thời gian bị bệnh: 4 tháng

Nh­ư vậy:Bệnh nhân này đủ tiêu chuẩn chẩn đoán là Giai đoạn trầm cảm nặng không có loạn thần. Với: 3 triệu chứng chính, 6 triệu chứng phụ và 1 triệu chứng nặng là luôn muốn tự  sát.

c. Chẩn đoán: Giai đoạn trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần

Điều trị:

    Chúng tôi đã điều trị như  các loại BN đã dùng nhưng lần này có kết hợp như  sau:

Từ 1-3.10.2013:

  1. levomepromazine 25 mg ngày 3 viên, trưa 1 tối 2
  2. Oxeflu 20 mg ngày 2 viên, trưa 1 tối 1
  3. Seroquel XR 50 mg  ngày 2 viên, trưa 1 tối 1.

Từ 4 - 30.10.2013:

  1. levomepromazine 25 mg ngày 3 viên, trưa 1 tối 2
  2. Oxeflu 20 mg ngày 2 viên, trưa 1 tối 1
  3. Seroquel XR 300 mg  ngày 1 viên uống tối.

   Sau 1 tháng thì BN vui vẻ, dễ chịu, thoải mái, sau 2 tháng điều trị thì BN lại muốn quay về trường để học

      Nh­ư vậy, với công thức này thì sau 2 tháng BN đã thấy dễ chịu, và từ đó đến nay Tâm thần ổn định tốt và đã muốn đi học, không còn chơi Game nữa

 

Bệnh nhân 2

Họ và tên: Đỗ văn D       Sinh : năm 1984

Địa chỉ:  Thành phố Vinh – Nghệ an

Điều trị: 10.1..2013

Lý do điều trị:  Trầm cảm sau sử dụng Amphétamine.

Bệnh sử:

       Bệnh nhân là con thứ 1/2. Tiền sử sản khoa bình thư­ờng. Sự phát triển về thể chất và tâm thần từ nhỏ đến lớn hoàn toàn bình thư­ờng, ít ốm đau. Tính tình hiền lành ngoan ngoãn. Học hết 12/12, đã tốt nghiệp thạc sỹ tại Trung Quốc, hiện là giảng viên trường thể dục thể thao .

     Sau khi ở Trung quốc về, bệnh nhân được bạn bè rủ đi chơI và cho sử dụng ma túy đá (Amphétamine) và nhanh chóng bị nghiện. Trong thời gian 2 năm dùng ma túy đá, BN thường xuyên xuất hiện những tiếng nói đe dọa trong đầu, luôn thấy căng thẳng rất khó chịu  và nhiều lúc chỉ muốn cầm dao đâm chết người khác rồi tự  sát, vì luôn thấy rất bức bối khó chịu trong người, hoặc chỉ muốn đấm đá người nào đó cho dễ chịu…BN luôn phải kìm nén để không xảy ra án mạng. Mỗi lần như vậy gia đình lại cho đến trung tâm cai nghiện của tỉnh để cai, sau vài tháng BN lại sử dụng lại do thèm thuốc, BN nói là buồn quá nên lại thèm thuốc. Gia đình đã cho cai nhiều lần không thành, cơ quan đã định thải hồi nhưng vì mối quan hệ của bố nên BN vẫn chưa bị thải hồi.

     Ngày 10.1.2013, gia đình cho đến bác sỹ công tác tại BVTTTW1 điều trị sau khi mới cai nghiện ở tỉnh xong.

Tiền sử: Nghiện  Amphétamine 2 năm nay đến khi đến điều trị. 

Gia đình: Không ai bị bệnh tâm thần, động kinh

Khám bệnh:

- Nội khoa : BT

- Thần kinh: BT

- Tâm thần:

Biểu hiện chung: Tiếp xúc được, thể trạng gầy, mệt mỏi.

   ý thức: Không rối loạn

- Tình cảm, cảm xúc:  Cảm xúc buồn rầu chán nản, khí sắc giảm rõ rệt.

- Tri giác: Không có ảo thanh

- T­ duy :

      + Hình thức: Nhịp chậm.

         + Nội dung: Không có hoang tưởng

- Hành vi :

         + Hoạt động có ý chí: Giảm, không làm đ­ược việc, nhiều lần muốn tự sát.

         + Hoạt động bản năng: ăn kém

         + Bức bối khó chịu trong ng­ười

- Trí nhớ: BT

- Trí năng: Giảm

- Chú ý: Không tập trung vào câu hỏi. Mệt mỏi lờ đờ

Các xét nghiệm: đã cho làm các xét nghiệm cơ bản

Tóm tắt triệu chứng và hội chứng

Rối loạn cảm xúc : Không ổn định, dễ bùng nổ cáu gắt, căng thẳng, khí sắc giảm, nét mặt buồn

Rối loạn t­ư duy : nhịp chậm

Rối loạn hành vi : Lầm lỳ, xa lánh mọi ng­ười không muốn tiếp xúc với ai, thích ngồi 1 mình trong nhà, nằm nhiều, không làm đ­ược gì. ăn kém. Vẫn muốn sử dụng ma túy đá, nhiều lúc bức bối khó chịu trong người.

Rối loạn trí nhớ: Hay quên

Trắc nghiệm tâm lý : Test Beck  (trầm cảm nặng t),

Chẩn đoán: Trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần trên bệnh nhân nghiện amphétamine (các rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và sử dụng các chất tác động tâm thần khác – F19 c)

Điều trị:  Từ 10-13.01.2013:

  1. Olanzpine 10 mg ngày 3 viên, trưa 1 tối 2
  2. Oxeflu 20 mg ngày 2 viên, trưa 1 tối 1
  3. Seroquel XR 50 mg  ngày 2 viên, trưa 1 tối 1.

Từ 14 -1. 2013 đến 14.04.2013:

  1. Olanzpine 10 mg ngày 3 viên, trưa 1 tối 2
  2. Oxeflu 20 mg ngày 2 viên, trưa 1 tối 1
  3. Seroquel XR 300 mg  ngày 1 viên uống tối.

    Sau 1 tháng thì BN vui vẻ, dễ chịu, thoải mái, cảm giác thèm ma túy không xuất hiện. Tháng 8. 2013 BN thii đỗ nghiên cứu sinh và hiện tại đang theo học nghiên cứu sinh và trở về bộ môn công tác bình thường.  Cho đến nay, BN hoàn toàn không còn cảm giác thèm ma túy nũa.

Một vài nhận xét sơ bộ

  - Một số người trẻ ham chơi đã tự biến mình từ người khỏe mạnh thành người bệnh lý. Cả 2 dạng nghiện này đều dẫn đến những hậu quả xấu cho bản thân, gia đình và xã hội. Nhiều người trong số họ đã bị trầm cảm khiến người bệnh phải cai đi cai lại nhiều lần vì cai được rồi nhưng buồn chán do trầm cảm nên lại tái nghiện trở lại.

- Cần kiểm tra những đối tượng này xem có bị trầm cảm không để điều trị kịp thời

Các bài khác...

Page 4 of 9

Giới Thiệu

Tiến Sĩ - Bác Sĩ Tô Thanh Phương

- Tiến sĩ bác sĩ cao cấp

- Đào tạo 2 lần ở pháp

- Trưởng khoa 6 , Bệnh Viện Tâm Thần TWƯ1

- Phó Giám Đốc

Cảm Nhận Bệnh Nhân

“Giờ chỉ mong sớm được về nhà, làm ruộng rồi cưới vợ sinh con. Em hứa sẽ tiêm phòng, uống... Read more

Super User - avatar Super User

Rất hiệu quả và tôi đã trở lại bình thường , không bị mất ngủ nữa Read more

Super User - avatar Super User

Rất hiệu quả Read more

Super User - avatar Super User

  • 1
  • 2
  • 3